Làm chủ công nghệ nâng giá trị cây hoa
Dự án "Ứng dụng công nghệ tiên tiến xây dựng mô hình sản xuất hoa lan hồ điệp (Phalaenopsis spp.), đồng tiền (Gerbera spp.) cho vùng ngoại thành Hà Nội" được triển khai trong khuôn khổ Chương trình "Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025" theo Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

Mô hình sản xuất hoa lan hồ điệp tại Hà Nội.
Dự án do Công ty TNHH Nông nghiệp Công nghệ cao Gia Lâm chủ trì, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh hỗ trợ chuyển giao công nghệ.
Sau 3 năm thực hiện, từ năm 2022 đến 2025, dự án đã tiếp nhận và làm chủ hai quy trình công nghệ sản xuất hoa lan hồ điệp và hoa đồng tiền. Các quy trình được điều chỉnh phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương, cho hiệu quả kinh tế cao hơn khoảng 1,3-1,5 lần so với phương thức sản xuất thông thường.
Sau khi dự án kết thúc, đơn vị chủ trì vẫn duy trì, ứng dụng các quy trình đã tiếp nhận và từng bước chuyển giao cho các đơn vị khác trên địa bàn. Hai mô hình sản xuất được xây dựng cũng cho thấy khá rõ hiệu quả của việc đưa công nghệ vào sản xuất.
Với hoa lan hồ điệp, mô hình được triển khai trên diện tích 1.700 m² nhà màng hiện đại, gồm 30.000 cây lan hồ điệp 12 tháng tuổi và 30.000 cây thương phẩm. Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn đạt 91%; lãi thuần hơn 1,8 tỷ đồng trong 2 năm.
Đối với hoa đồng tiền, mô hình được xây dựng trên diện tích 4.000 m² nhà màng, quy mô 32.000 chậu. Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn đạt 94-95%, lãi thuần hơn 200 triệu đồng/vụ.
Những kết quả này cho thấy công nghệ không chỉ nằm trong phòng thí nghiệm hay các quy trình kỹ thuật. Khi được đưa vào nhà màng, gắn với điều kiện đất đai, khí hậu và tập quán sản xuất cụ thể, công nghệ trở thành công cụ trực tiếp nâng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Một trong những kết quả có ý nghĩa lâu dài của dự án là đào tạo con người đi cùng với chuyển giao công nghệ. Dự án đã đào tạo chuyên sâu cho 6 cán bộ kỹ thuật viên cơ sở và tổ chức tập huấn cho 100 lượt nông dân tại địa bàn triển khai. Không chỉ tiếp nhận quy trình, đội ngũ này còn được trang bị kỹ năng để trực tiếp vận hành, áp dụng và hướng dẫn lại cho người sản xuất.
Đây cũng là cách tiếp cận xuyên suốt của Chương trình Nông thôn miền núi, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người dân và cán bộ kỹ thuật tại chỗ có thể làm chủ. Trong quá trình triển khai Chương trình giai đoạn 2016-2025, Bộ KH&CN xác định các dự án không chỉ tập trung vào chuyển giao công nghệ mà còn phải đào tạo kỹ thuật viên, tập huấn cho nông dân, xây dựng mô hình thực tế để người dân có thể tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ phù hợp với địa phương.
Cách làm này tạo ra khả năng nhân rộng sau khi dự án kết thúc. Những cán bộ kỹ thuật được đào tạo trở thành lực lượng nòng cốt tại cơ sở; những hộ dân tham gia mô hình trở thành địa chỉ thực tế để người sản xuất khác tham quan, học hỏi và áp dụng.

Mô hình sản xuất hoa đồng tiền tại Hà Nội.
Đây chính là giá trị quan trọng của các dự án KH&CN phục vụ nông nghiệp, không dừng ở việc tạo ra một mô hình thành công mà hình thành năng lực công nghệ tại địa phương.
Thực tế từ dự án sản xuất hoa tại Hà Nội có thể nhìn rộng hơn trong bức tranh ứng dụng KH&CN ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Bộ KH&CN, trong 5 năm đầu thực hiện Chương trình Nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2020, đã có 400 dự án được triển khai, xây dựng 1.309 mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN và chuyển giao 2.126 lượt công nghệ mới, tiên tiến phù hợp với từng vùng miền. Các dự án tập trung vào chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật viên, tập huấn cho người dân và xây dựng mô hình ứng dụng trong thực tế.
Điểm chung của những mô hình này là đưa công nghệ đến gần hơn với sản xuất và đời sống. Công nghệ được lựa chọn không chỉ dựa trên mức độ tiên tiến mà quan trọng hơn là tính phù hợp, khả năng làm chủ và khả năng nhân rộng.
Đây cũng là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, trong đó giai đoạn I được triển khai từ năm 2021 đến năm 2025.
Trong bối cảnh đó, KH&CN có thể tạo ra một kênh quan trọng để chuyển các lợi thế về đất đai, khí hậu, cây trồng, vật nuôi và sản phẩm đặc trưng của từng vùng thành giá trị kinh tế. Từ giống, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch đến chế biến, bảo quản, tiêu chuẩn chất lượng và kết nối thị trường, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật giúp giảm dần phương thức sản xuất manh mún, nâng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Với vùng nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tác động của KH&CN vì thế không chỉ được đo bằng số công nghệ được chuyển giao hay số mô hình được xây dựng. Quan trọng hơn là khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập, hình thành sản phẩm hàng hóa và mở ra sinh kế ổn định cho người dân.
Vai trò "bà đỡ" của Bộ KH&CN
Thực tiễn Chương trình Nông thôn miền núi cho thấy nhiều dự án đã tạo hiệu quả kinh tế trực tiếp, đồng thời góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống và bảo vệ môi trường. Bộ KH&CN cũng xác định việc đưa nhanh tiến bộ KH&CN vào sản xuất, gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển sản phẩm hàng hóa là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển khu vực này.
Trong Chương trình Nông thôn miền núi, Bộ KH&CN đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức triển khai Chương trình; đồng thời hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các tổ chức chủ trì và tổ chức hỗ trợ chuyển giao công nghệ. Bộ cũng định hướng việc lựa chọn dự án phải bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và sản phẩm chủ lực của từng địa phương.
Ở cấp địa phương, các Sở KH&CN có vai trò tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố lựa chọn và tổ chức thực hiện những dự án phù hợp với định hướng phát triển, qua đó nâng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và cải thiện đời sống người dân.
Cách làm này tạo nên một chuỗi liên kết: Nhà nước định hướng và hỗ trợ - cơ quan KH&CN kết nối, chuyển giao - doanh nghiệp, tổ chức khoa học làm chủ công nghệ - người dân tiếp nhận và ứng dụng - thị trường quyết định khả năng phát triển của sản phẩm.