Nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút là hai giống nếp đặc sản của Quảng Ngãi, thuộc nguồn gen cần được bảo tồn và phát triển. Qua quá trình canh tác lâu năm, các giống có nguy cơ bị pha tạp, thoái hóa, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và khả năng duy trì sản xuất.
Nhằm bảo tồn và khai thác nguồn gen này, nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Trường Đại học Quy Nhơn thực hiện đã tiến hành điều tra, thu thập 100 mẫu của mỗi giống; đánh giá đặc điểm nông sinh học và xây dựng bảng mô tả gồm 59 tính trạng đặc trưng đối với nếp Ngự Sa Huỳnh, 54 tính trạng đối với nếp Cút.
Tạo nguồn giống có độ thuần cao
Bên cạnh đánh giá đặc điểm kiểu hình, nhóm nghiên cứu phân tích đa dạng nguồn gen dựa trên kiểu gen, qua đó xác định hai giống nếp đều thuộc loài phụ Japonica và xây dựng dữ liệu phục vụ bảo tồn nguồn gen.
Trên cơ sở kết quả phân tích, hai giống nếp được phục tráng bằng phương pháp công nghệ sinh học kết hợp phương pháp truyền thống, tạo nguồn giống có độ thuần cao. Kết quả, đối với mỗi giống, đề tài đã sản xuất được 300 kg hạt giống siêu nguyên chủng và 600 kg hạt giống nguyên chủng, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia về quy trình sản xuất hạt giống cây trồng tự thụ phấn.

Với nếp Cút, mật độ cấy và chế độ bón phân được xác định nhằm nâng cao năng suất, chất lượng.
Từ nguồn giống đã phục tráng, nhóm nghiên cứu xây dựng quy trình thâm canh phù hợp với đặc điểm từng giống. Đối với nếp Ngự Sa Huỳnh, lượng giống gieo sạ và chế độ dinh dưỡng được xác định qua nghiên cứu. Với nếp Cút, mật độ cấy và chế độ bón phân được xác định nhằm nâng cao năng suất, chất lượng.
Việc kết hợp đánh giá nguồn gen, phục tráng giống và xây dựng quy trình canh tác tạo cơ sở duy trì các đặc tính của giống bản địa, đồng thời đưa nguồn giống có chất lượng vào sản xuất.
Hiệu quả bước đầu từ mô hình sản xuất
Mô hình nếp Ngự Sa Huỳnh được triển khai trên quy mô 3 ha, đạt năng suất 4,82 tấn/ha. Lãi ròng đạt 45,064 triệu đồng/ha, cao hơn 10,672 triệu đồng/ha so với sản xuất đại trà, tương ứng hiệu quả kinh tế tăng 31,03%.
Đối với nếp Cút, mô hình 3 ha đạt năng suất 3,62 tấn/ha, lãi ròng 12,992 triệu đồng/ha, thấp hơn 6,720 triệu đồng/ha so với sản xuất đại trà. Kết quả này là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình canh tác, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất đối với giống nếp Cút.

Nếp Ngự Sa Huỳnh được từng triển khai, nhân rộng.
Cùng với phục tráng giống và xây dựng mô hình sản xuất, nhóm nghiên cứu đã xây dựng quy trình bảo tồn nội vi kết hợp ngoại vi nhằm lưu giữ nguồn gen nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút; đề xuất các giải pháp duy trì, khai thác và phát triển hai giống.
Kết quả nhiệm vụ cho thấy ứng dụng công nghệ sinh học trong đánh giá, bảo tồn và phục tráng nguồn gen có thể tạo nguồn giống chất lượng phục vụ sản xuất. Việc gắn bảo tồn nguồn gen với phục tráng giống, hoàn thiện quy trình canh tác và đánh giá hiệu quả sản xuất cũng tạo cơ sở để khai thác tốt hơn giá trị của các giống cây trồng bản địa.