Gà Tai đỏ là một trong những giống gà rừng được ghi nhận tại Việt Nam, phân bố ở một số tỉnh như Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Giống gà này có sức đề kháng tốt, lông đẹp, thịt thơm, ngọt và mềm. Đây là nguồn gen có giá trị cần được bảo tồn, khai thác và phát triển phù hợp.

Gà Tai đỏ là nguồn gen vật nuôi quý, có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, đánh giá của đơn vị thực hiện nhiệm vụ trước đó, việc chăn nuôi gà Tai đỏ chủ yếu còn nhỏ lẻ, chưa áp dụng đầy đủ các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tình trạng đồng huyết, cận huyết có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản; việc áp dụng các biện pháp chọn lọc giống, xây dựng định mức thức ăn, thú y và phòng, chống dịch bệnh cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện.
Trên cơ sở đó, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương đã đề xuất và được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt thực hiện dự án "Hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà Tai đỏ".
Dự án kế thừa kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước "Khai thác phát triển nguồn gen giống gà Tai đỏ", đồng thời tập trung chọn lọc giống, xây dựng đàn hạt nhân và hoàn thiện quy trình chăn nuôi phục vụ sản xuất.
Ông Hoàng Xuân Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật, Chủ nhiệm dự án cho biết "Chúng tôi đã xây dựng được quy trình chọn lọc, ổn định đàn hạt nhân gà Tai đỏ; xây dựng được quy trình chăn nuôi đàn sinh sản và đàn thương phẩm và quy trình thú y phòng bệnh cho cả 2 loại đàn".
Kết quả thực hiện dự án cho thấy, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được đàn gà Tai đỏ hạt nhân thuần với 300 gà mái; triển khai hai mô hình đàn sản xuất tại Thanh Hóa và Ninh Bình, quy mô 1.000 gà mái, cùng bốn mô hình chăn nuôi gà thương phẩm.
Dự án cũng hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà Tai đỏ sinh sản và quy trình chăn nuôi gà Tai đỏ thương phẩm, tạo cơ sở kỹ thuật để duy trì nguồn giống và phát triển chăn nuôi tại các địa phương.
Hiệu quả của việc chọn lọc giống được thể hiện qua các chỉ tiêu sinh sản. Trước khi chọn lọc, năng suất trứng đạt 25-27 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng có phôi đạt 75-80%. Sau chọn lọc, năng suất trứng tăng 1,16-3,74 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng có phôi tăng 6,04-11,39% so với đàn gà trước khi chọn lọc.
Theo báo cáo kết quả nhiệm vụ, hiệu quả kinh tế của đàn gà sau chọn lọc cao hơn 39,29 triệu đồng so với đàn nuôi đại trà trong nông hộ.
Việc xây dựng đàn hạt nhân và hoàn thiện quy trình chăn nuôi không chỉ góp phần duy trì nguồn gen gà Tai đỏ mà còn tạo cơ sở để cung cấp con giống, mở rộng sản xuất.
Theo báo cáo của nhiệm vụ, với đàn hạt nhân 300 gà mái, mỗi năm có thể tạo ra khoảng 6.750 gà sản xuất và 70.875 gà thương phẩm, đem lại lợi nhuận lớn cho người dân.

Khoa học công nghệ đã góp phần bảo tồn, phát triển nguồn gen gà Tai đỏ.
Theo báo cáo, việc chuyển giao giống gà đặc sản có chất lượng cùng quy trình công nghệ phù hợp có thể giúp năng suất tăng 3-5%, hiệu quả kinh tế tăng 5-7%; đồng thời tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và đáp ứng nhu cầu về thực phẩm chất lượng, an toàn.
Kết quả nghiên cứu cũng được xác định có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế của người dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi thuộc Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An.
Từ việc chọn lọc giống, xây dựng đàn hạt nhân đến hoàn thiện quy trình chăn nuôi, dự án cho thấy vai trò của khoa học và công nghệ trong bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen vật nuôi.
Việc tiếp tục ứng dụng, chuyển giao các kết quả này gắn với điều kiện sản xuất tại địa phương sẽ góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân.