Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Ứng dụng kỹ thuật nâng hiệu quả chăn nuôi dê ở A Lưới

Từ chăn nuôi dựa nhiều vào kinh nghiệm, người dân vùng cao A Lưới, thành phố Huế từng bước áp dụng kỹ thuật từ chọn giống, chăm sóc, chế biến thức ăn đến phòng bệnh cho đàn dê. Tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) được đưa vào từng khâu sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và tạo thêm sinh kế cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tại thôn A Chi Hương Sơn, xã A Roàng trước đây, gia đình anh Viên Đăng Noh, người Tà Ôi, là một trong những hộ áp dụng mô hình nuôi dê bán chăn thả. Gia đình được hỗ trợ 6 con dê, 130 kg cỏ voi, máy cắt thức ăn và hướng dẫn kỹ thuật. Anh Noh đồng thời đầu tư 20 triệu đồng làm chuồng lót sàn gỗ, chia ô để thuận tiện chăm sóc đàn dê.

Ứng dụng kỹ thuật nâng hiệu quả chăn nuôi dê ở A Lưới - Ảnh 1.

Theo anh Noh, ‘có học, có hơn’. Nhờ dự án, anh được học hỏi thêm nhiều kiến thức, kỹ thuật, từ đó chăn nuôi bài bản và khoa học hơn.

Từ cách nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, qua tập huấn, anh Noh áp dụng kỹ thuật ủ, dự trữ thức ăn, giữ ấm chuồng trại, chăm sóc dê con, tách dê mẹ mang thai và tăng sức đề kháng cho đàn. Cỏ voi được trồng để chủ động nguồn thức ăn; lá cây, chuối, cám gạo, bột ngô được tận dụng, bổ sung vào khẩu phần.

"Nuôi theo kiểu trước đây, mình chỉ biết chăm sóc, cho ăn theo thói quen; giờ thì áp dụng cách ủ thức ăn, giữ ấm mùa đông, tăng sức đề kháng cho dê con mới sinh. Có học, có hơn. Dự án giúp mình rất nhiều để trở thành một người chăn nuôi khoa học", anh Noh chia sẻ.

Cách nuôi mới đã mang lại nguồn thu cho gia đình. Với giá dê cỏ khoảng 130.000 đồng/kg, một cặp dê đực của gia đình anh Noh bán được 17 triệu đồng. Từ những kỹ thuật tiếp nhận được, anh còn chia sẻ kinh nghiệm và con giống cho các hộ có nhu cầu nuôi dê tại địa phương.

Đưa quy trình kỹ thuật vào chuồng nuôi

Gia đình anh Noh có gần 5 ha rừng cao su và keo làm nơi chăn thả. Mùa khô, đàn dê được chăn thả và đưa vào khu lán trại tại rừng trồng. Mùa rét, dê được đưa về chuồng; thức ăn được ủ, dự trữ, chuồng được quây kín hoặc thắp thêm đèn để giữ ấm.

Để chủ động nguồn thức ăn, gia đình trồng thêm cỏ voi, tận dụng lá trà, chuối cây; khi ủ bổ sung cám gạo, bột ngô và thức ăn tinh. Việc tổ chức chăn nuôi theo mùa cho thấy các kỹ thuật được tiếp nhận đã được vận dụng phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình.

Mô hình của anh Noh thuộc Dự án "Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong xây dựng mô hình phát triển đàn dê tại huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế", thuộc Chương trình "Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016–2025".

Thông qua dự án, 8 quy trình kỹ thuật được chuyển giao, gồm: trồng cỏ làm thức ăn; sản xuất và sử dụng tảng đá liếm đa dinh dưỡng; chăm sóc dê con theo mẹ; chọn giống, chọn phối; chăm sóc dê sinh sản; nuôi dê thịt thương phẩm; bảo quản, chế biến thức ăn thô xanh và phụ phẩm nông nghiệp; thú y và phòng bệnh.

Các quy trình giúp người dân chủ động hơn về nguồn thức ăn, chăm sóc đàn dê theo từng giai đoạn sinh trưởng, phòng bệnh và ứng phó với điều kiện thời tiết bất lợi. Tại gia đình anh Noh, kỹ thuật được cụ thể hóa từ chuồng nuôi, nguồn thức ăn đến cách chăm sóc dê mẹ, dê con.

Kinh nghiệm chăn nuôi cũng được chia sẻ giữa các hộ. Pling Khen, một người dân địa phương, bắt đầu nuôi 2 dê con và thường xuyên trao đổi với anh Noh về kỹ thuật chăm sóc. Từ một hộ tham gia mô hình, kiến thức và kinh nghiệm sản xuất từng bước được lan tỏa trong cộng đồng.

Gắn kỹ thuật với sinh kế

Chăn nuôi dê phù hợp với điều kiện của nhiều hộ dân vùng cao A Lưới, song quy mô sản xuất còn nhỏ. Kết quả khảo sát 30 hộ dân tộc thiểu số nuôi dê tại địa phương cho thấy bình quân mỗi hộ nuôi khoảng 6,3 con; 70% số hộ áp dụng hình thức bán thâm canh. Mỗi hộ bán bình quân khoảng 2 con/năm, thu từ chăn nuôi dê khoảng 10,7 triệu đồng, chiếm 25,2% cơ cấu thu nhập của các hộ được khảo sát.

Kết quả khảo sát cho thấy chăn nuôi dê đã đóng góp vào thu nhập của người dân, nhưng quy mô đàn còn nhỏ, đầu ra hạn chế, giá bán biến động và kênh tiêu thụ chưa đa dạng. Đây là những trở ngại đối với việc phát triển chăn nuôi thành sinh kế ổn định.

Trong điều kiện đó, KH&CN tác động trực tiếp vào những khâu người dân có thể chủ động, từ giống, thức ăn, chăm sóc, sinh sản đến phòng bệnh. Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn, chủ động trồng cỏ và áp dụng quy trình chăm sóc giúp người dân từng bước thay đổi phương thức chăn nuôi dựa nhiều vào kinh nghiệm.

Ứng dụng kỹ thuật nâng hiệu quả chăn nuôi dê ở A Lưới - Ảnh 2.

Cán bộ hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi với bà con dân bản. 

Chủ tịch Hội Nông dân xã A Roàng Blúp Dương đánh giá, gia đình anh Viên Đăng Noh là một trong những hộ tiêu biểu của mô hình nuôi dê tại địa phương. Anh chịu khó, chăm chỉ áp dụng kỹ thuật và từng được Hội mời tham gia các hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi với bà con dân bản.

Từ 6 con dê được hỗ trợ ban đầu, anh Noh không chỉ đầu tư thêm chuồng trại mà còn đưa kỹ thuật vào từng khâu chăn nuôi, từ thức ăn, giữ ấm, chăm sóc dê mẹ, dê con đến phòng bệnh. Kinh nghiệm sau đó tiếp tục được chia sẻ cho các hộ khác.

Câu chuyện của gia đình anh Noh cho thấy hiệu quả chuyển giao KH&CN không chỉ nằm ở những quy trình kỹ thuật, mà còn ở khả năng người dân tiếp nhận, áp dụng và biến kỹ thuật thành cách sản xuất của chính mình.

Khi kiến thức tiếp tục được chia sẻ trong cộng đồng, giá trị của mô hình có điều kiện lan tỏa, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và tạo sinh kế cho người dân vùng cao A Lưới.

Trung tâm Truyền thông KH&CN (tổng hợp)
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm