Bỏ qua đến nội dung chính

Việt Nam đặt mục tiêu vào top 3 Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI

Thứ hai, 13/04/2026 17:15

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu vươn lên nhóm 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), coi đây là mũi nhọn chiến lược để bứt phá năng suất, nâng tầm năng lực công nghệ và định vị lại vị thế quốc gia trong cuộc đua đổi mới sáng tạo.

Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) đến năm 2030 gắn với định hướng xuyên suốt: Đưa KH,CN&ĐMST trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Theo đó, Chiến lược nhấn mạnh vai trò quyết định KH,CN&ĐMST trong nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Trong bức tranh tổng thể đó, mục tiêu phát triển trí tuệ nhân tạo được đặt ở vị trí trung tâm, gắn với yêu cầu làm chủ và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và hình thành nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Việt Nam hướng tới phát triển tiềm lực và trình độ KH,CN&ĐMST, từng bước đạt mức tiên tiến đạt trình độ tiên tiến ở một số lĩnh vực trọng điểm, đồng thời xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.

Việt Nam đặt mục tiêu vào top 3 Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI - Ảnh 1.

Việt Nam hướng tới nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh số, Chính phủ điện tử và hình thành các doanh nghiệp công nghệ số tầm khu vực.

Để hiện thực hóa các định hướng, Chiến lược đưa ra loạt chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới.

Các động lực tăng trưởng cũng được lượng hóa rõ nét: Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%.

Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân. Có tối thiểu 50 tổ chức KH&CN được xếp hạng khu vực và thế giới. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm. Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16-18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%.

Điểm nhấn nổi bật của Chiến lược là mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo, đồng thời nâng hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) vào nhóm 50 nước hàng đầu thế giới.

Song song, trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%.

Đáng chú ý, Việt Nam hướng tới hình thành tối thiểu 5-10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.

Việt Nam đặt mục tiêu vào top 3 Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI - Ảnh 2.

Hạ tầng AI, dữ liệu và 5G kết nối các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tạo nền tảng cho chu kỳ tăng trưởng mới từ năm 2026.

Để hiện thực hóa mục tiêu, Chiến lược xác định sáu nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm:

Triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Phát triển các lĩnh vực KH&CN làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo

Phát triển hạ tầng KH,CN&ĐMST và hạ tầng dữ liệu quốc gia.

Phát triển tổ chức KH&CN và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường KH&CN và tài sản trí tuệ.

Chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao KH,CN&ĐMST.

Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hóa nguồn lực tài chính và tăng cường giám sát, đánh giá trong quá trình triển khai, bảo đảm tính linh hoạt và hiệu quả thực thi.

Với trọng tâm đặt vào trí tuệ nhân tạo và các công nghệ chiến lược, Chiến lược không chỉ mở rộng không gian phát triển cho KH,CN&ĐMST, mà còn tạo nền tảng để Việt Nam bứt phá, từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ khu vực và toàn cầu.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
icon Xem theo ngày

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top