Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Biến khát vọng tự chủ công nghệ thành năng lực cạnh tranh thực chất

Việt Nam đang đứng trước cơ hội nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Nhưng để biến khát vọng thành năng lực cạnh tranh thực chất, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút đầu tư hay mở rộng quy mô ngành, mà phải tạo ra công nghệ do người Việt làm chủ, sản phẩm có thị trường và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Các đại biểu chứng kiến lễ trao biên bản ghi nhớ hợp tác

Các đại biểu chứng kiến lễ trao biên bản ghi nhớ hợp tác

Từ thông điệp chiến lược đến chương trình hành động

Ngày 10/8/2026, phát biểu tại Diễn đàn TechConnect Việt Nam – Australia tại Sydney, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai nước chuyển từ hợp tác sang đồng kiến tạo, từ chuyển giao công nghệ sang cùng nghiên cứu và phát triển, đồng thời kết nối các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. AI, bán dẫn và công nghệ số được xác định là những lĩnh vực ưu tiên hợp tác.

Thông điệp này đặt ra yêu cầu vượt lên cách tiếp cận truyền thống. Việt Nam không chỉ là địa điểm sản xuất, tiếp nhận công nghệ hay thị trường tiêu thụ, mà phải từng bước trở thành nơi nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ngày 12/10/2026, tại Hà Nội, Diễn đàn Hợp tác đầu tư, phát triển Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo Việt Nam - Australia do Cục Công nghiệp công nghệ thông tin thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam - Australia tổ chức, tiếp nối định hướng hợp tác này.

Ý nghĩa của diễn đàn không chỉ nằm ở việc mở rộng kết nối doanh nghiệp hai nước. Quan trọng hơn là, chuyển những cam kết cấp cao thành chương trình nghiên cứu chung, hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm.

Quy mô tăng trưởng lớn, bài toán giá trị gia tăng còn nguyên

Theo số liệu ước tính được cung cấp, trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt khoảng 5,387 triệu tỷ đồng, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt khoảng 175,62 tỷ USD, tăng 34,7%. Cả nước có khoảng 82.723 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động.

Những con số này cho thấy quy mô ngành ngày càng lớn và vai trò quan trọng của công nghệ số trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu. Tuy vậy, tăng trưởng doanh thu và xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc Việt Nam đã làm chủ tương ứng các công nghệ tạo ra giá trị cao nhất.

Thách thức nằm ở khả năng phát triển công nghệ lõi, sở hữu thiết kế, làm chủ phần mềm, dữ liệu, bằng sáng chế và thương hiệu sản phẩm. Nếu doanh nghiệp trong nước chủ yếu đảm nhiệm gia công, lắp ráp hoặc cung cấp dịch vụ ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp, phần lợi ích lớn từ đổi mới công nghệ vẫn có thể nằm ngoài Việt Nam.

Với AI, vấn đề cũng không dừng ở số lượng doanh nghiệp triển khai công cụ mới. Doanh nghiệp cần chứng minh AI giúp giảm chi phí, tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm hoặc tạo ra nguồn doanh thu mới. 

Với bán dẫn, việc thu hút dự án đầu tư phải đi cùng năng lực thiết kế, đào tạo kỹ sư, phát triển nhà cung ứng và từng bước nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước.

Có chiến lược, phải có sản phẩm và thị trường

Nền tảng chính sách cho bước chuyển này đã được xác lập. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Cụ thể hóa định hướng đó, Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt doanh thu tối thiểu 300 tỷ USD, có ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số và hơn 3 triệu nhân lực; doanh thu xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghệ số đạt ít nhất 55 tỷ USD mỗi năm. Chương trình nhấn mạnh chuyển từ sản xuất tại Việt Nam sang sáng tạo, làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm mang thương hiệu Việt.

Trong lĩnh vực bán dẫn, Quyết định 1018/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế chip, một nhà máy chế tạo chip quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử; doanh thu công nghiệp bán dẫn đạt trên 25 tỷ USD mỗi năm. Song song, Quyết định 1017/QĐ-TTg đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ từ đại học trở lên phục vụ ngành bán dẫn đến năm 2030.

Các mục tiêu này chỉ có thể đạt được nếu chính sách được chuyển thành nhiệm vụ cụ thể, có đầu ra và có khả năng kiểm chứng. Hỗ trợ nghiên cứu phải hướng tới nguyên mẫu, sản phẩm thử nghiệm và khả năng thương mại hóa; đầu tư hạ tầng phải giúp doanh nghiệp tiếp cận năng lực tính toán, phòng thí nghiệm và thiết bị dùng chung với chi phí phù hợp; đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Bốn hướng đi để biến quyết tâm thành năng lực cạnh tranh

Trước hết, cần chuyển trọng tâm từ ứng dụng AI đơn lẻ sang phát triển sản phẩm lấy AI làm năng lực cốt lõi. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp chủ động thiết kế kiến trúc sản phẩm, tổ chức dữ liệu và tích hợp AI ngay từ đầu, thay vì chỉ bổ sung tính năng thông minh vào sản phẩm có sẵn.

Thứ hai, phát triển bán dẫn phải gắn với nhu cầu thị trường trong nước. Các hướng như chip chuyên dụng, cảm biến, IoT và xử lý AI tại biên có thể tạo không gian cho doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu cùng phát triển sản phẩm. Cơ chế đặt hàng, sản xuất thử và chia sẻ hạ tầng sẽ giúp giảm chi phí nghiên cứu, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và startup.

Thứ ba, hợp tác Việt Nam – Australia cần đi vào các dự án có đầu ra rõ ràng. Mạng lưới đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và quỹ đầu tư hai nước có thể cùng phát triển phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực, nghiên cứu công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Thước đo thành công không chỉ là số biên bản ghi nhớ được ký, mà còn là số dự án được triển khai, sản phẩm được thương mại hóa và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Thứ tư, Nhà nước cần tạo thị trường ban đầu cho công nghệ trong nước thông qua cơ chế đặt hàng, thử nghiệm có kiểm soát và mua sắm sản phẩm công nghệ số theo quy định. Cùng với đó là tiêu chí hỗ trợ minh bạch, phân định rõ trách nhiệm và đánh giá bằng kết quả đầu ra thay vì chỉ tính số nhiệm vụ hay kinh phí đã giải ngân.

Từ TechConnect đến diễn đàn hợp tác tại Hà Nội, thông điệp xuyên suốt là đưa hợp tác công nghệ đi vào chiều sâu. Nhưng bước bứt phá cuối cùng không thể chỉ đến từ các tuyên bố hay chiến lược. Nó phải được thể hiện bằng công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thị trường chấp nhận, doanh nghiệp Việt Nam có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh quốc gia được cải thiện.

Đó cũng là phép thử thực chất đối với quyết tâm đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển mới của Việt Nam.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Từ khoá:
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm