Lê Tiến Nam - 02:52 03/06/2026
Theo khoản 2 điều 23 luật giao dịch điện tử thì chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.
Đối với chữ ký điện tử chuyên dùng phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 22 luật giao dịch điện tử. Điều kiện để chữ ký điện tử chuyên dùng được xác định bảo đảm an toàn thì phải được Bộ Thôn tin và truyền thông nay là Bộ khoa học và công nghệ cấp chứng nhận chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn theo khoản 3 điều 25 luật giao dịch điện tử.
Về phạm vi sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn khoản 2 Điều 9 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP: cho hoạt động nội bộ của tổ chức tạo lập, hoạt động đại diện cho chính tổ chức tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn để giao dịch với tổ chức, cá nhân khác Câu hỏi:
1. Ngân hàng tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn để ký trên văn bản nội bộ thì chữ ký này có bao hàm con dấu của ngân hàng không Nếu không bao hàm thì việc xác định dấu của ngân hàng tại văn bản nội bộ như thế nào Nếu bao hàm thì có mâu thuẫn với quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật doanh nghiệp không khi con dấu được xác định dưới hình thức chữ ký số
2. Ngân hàng sử dụng chữ ký điện tử bảo đảm an toàn để ký các hợp đồng cấp tín dụng được không
- Đối với việc tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn.
Điểm a khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023 đã quy định cơ quan, tổ chức được sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng trong các hoạt động nội bộ: Chữ ký điện tử chuyên dùng là chữ ký điện tử do cơ quan, tổ chức tạo lập, sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
Theo đó, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP quy định chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn được sử dụng cho các hoạt động nội bộ; hoạt động chuyên ngành, lĩnh vực có cùng tính chất hoặc mục đích công việc; hoạt động đại diện cho chính cơ quan, tổ chức tạo lập chữ ký điện tử đó để giao dịch với tổ chức, cá nhân khác (khi được cấp chứng nhận bảo đảm an toàn).
Pháp luật về giao dịch điện tử không quy định việc cơ quan tạo lập chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn được cấp cho cá nhân hay tổ chức, mà chỉ quy định phạm vi sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
Trường hợp chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký điện tử của cơ quan, tổ chức tạo lập thì căn cứ Điều 5 Nghị định 23/2025/NĐ-CP để xác định chứng thư chữ ký điện tử của cá nhân/tổ chức.
- Đối với vấn đề có mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp.
Luật Giao dịch điện tử chỉ quy định các thành tố cơ bản để các bên lựa chọn khi tham gia giao dịch hoặc theo quy định của pháp luật khác có liên quan như pháp luật chuyên ngành.
Cụ thể: tại khoản 2 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2023 đã quy định: Bảo đảm tự nguyện lựa chọn thực hiện giao dịch điện tử; tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ, phương tiện điện tử, chữ ký điện tử, hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch điện tử, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Theo đó, pháp luật chuyên ngành sẽ lựa chọn và áp dụng loại chữ ký điện tử để thực hiện giao dịch điện tử phù hợp với lĩnh vực. Cụ thể Pháp luật doanh nghiệp lựa chọn chữ ký số có thể thay thế con dấu của doanh nghiệp. Do đó, chưa thấy Luật Giao dịch điện tử có điểm mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp.
- Đối với việc sử dụng chữ ký điện tử bảo đảm an toàn để ký các hợp đồng cấp tín dụng.
Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 23/2025/NĐ-CP quy định chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn được sử dụng cho các hoạt động nội bộ trong đó có hoạt động đại diện cho chính cơ quan, tổ chức tạo lập chữ ký điện tử đó để giao dịch với tổ chức, cá nhân khác.
Tuy nhiên, như đã trình bày về nguyên tắc lựa chọn loại chữ ký điện tử khi tham gia giao dịch, việc sử dụng chữ ký điện tử bảo đảm an toàn để ký các hợp đồng cấp tín dụng sẽ thực hiện theo pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Đề nghị Quý Đơn vị trao đổi, làm rõ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.