Bỏ qua đến nội dung chính

Hỏi đáp chính sách, pháp luật

Gửi câu hỏi

Những câu hỏi mới được giải đáp

icon prev
icon next
avatar
MobiFone làm khó dễ không cho chuyển mạng giữ số sang Viettel
Tôi thường cần di chuyển đến những vùng sâu, vùng xa thậm chí ngay tại khu vực tôi đang sinh sống thì chất lượng dịch vụ mạng của MobiFone quá kém nên thường xuyên xảy ra tình trạng mất sóng liên lạc, mạng 4G không thể sử dụng. Điều này gây bất tiện cho tôi nên tôi không còn nhu cầu tiếp tục sử dụng mạng MobiFone nữa. Tôi đã gửi yêu cầu chuyển mạng giữ số số thuê bao 0789890505 của tôi từ MobiFone sang Viettel để tiếp tục sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên phía MobiFone vẫn lấy lý do rằng tôi không đạt điều kiện chuyển mạng để từ chối yêu cầu của tôi. Tôi đã nhiều lần liên hệ với Trung tâm CSKH cũng như cửa hàng MobiFone để được hỗ trợ, giải đáp cụ thể nhưng đến nay tôi vẫn chưa được chuyển mạng. Điều này khiến tôi mất rất nhiều thời gian, công sức và gây bức xúc. Việc đi lại, liên lạc để giải quyết vấn đề quá mất công sức và thời gian nên tôi không muốn trao đổi gì với họ nữa. Kính nhờ Bộ can thiệp, giúp đỡ tôi được chuyển mạng nhanh chóng. Trân trọng cảm ơn.
Xem chi tiết
avatar
Nhà mạng Vietnamobile gây khó dễ khi chuyển mạng giữ số
Kính gửi Bộ Khoa học và Công nghệ. Tên tôi là Nguyễn Hoàng Phi Yến, chủ thuê bao 0924062193 nhà mạng Vietnamobile. Số điện thoại của tôi là thuê bao trả trước, đăng ký thông tin chính chủ và không có bất kỳ cam kết với nhà mạng Vietnamobile. Ngày 09 10 2025 tôi có gọi hotline Tổng đài Vietnamobile để hỏi về việc chuyển mạng giữ số CMGS, nhân viên CSKH đã trả lời tôi đủ điều kiện để CMGS và đã tiếp nhận yêu cầu của tôi. Lý do chuyển mạng là vì dịch vụ mạng 4g của Vietnamobile rất kém khi vào các vùng sâu vùng quê hoặc vào các trung tâm thương mại lớn thì mạng rất chập chờn không thể kết nối được.  Ngày 16 04 2026 vừa qua tôi có đến cửa hàng Viettel để làm thủ tục CMGS sang mạng Viettel và đã soạn tin nhắn YCCM gửi 1441, sau đó đã nhận phản hồi vì lý do chưa đáp ứng 1 trong các điều kiện chuyển mạng . Tôi đã rất nhiều lần nhắn tin YCCM đến 1441 và nhờ nhà mạng Viettel hỗ trợ rất nhiều lần và đều bị từ chối với lý do tương tự.  Tôi đã gọi hotline CSKH Vietnamobile để hỏi lý do không đáp ứng điều kiện và được nhân viên CSKH phản hồi do địa chỉ đăng ký thuê bao chưa khớp với địa chỉ trên CCCD dù trước đó khi thay đổi thông tin từ CMND cũ sang CCCD mới tôi đã cung cấp lại thông tin thuê bao, mặt trước và mặt sau CCCD thông qua app Vietnamobile. Tôi đã làm theo hướng dẫn của nhân viên CSKH chuẩn hoá lại thông tin địa chỉ cho khớp với CCCD và đã gửi lại tin nhắn YCCM gửi 1441 và lại tiếp tục bị từ chối. Vì vậy kính mong Bộ Khoa học và Công nghệ cùng nhà mạng Vietnambile xem xét và hỗ trợ tôi được chuyển mạng.  Trân trọng
Xem chi tiết
avatar
Tôi xin chuyển mạng từ Viettel sang nhà mạng Vinaphone
Tôi đã làm các thủ tục cần thiết để chuyển mạng nhưng Viettel không chuyển cho tôi không biết lý do gì. Thậm chí bên chăm sóc khách hàng còn gọi cho tôi mầy lần đề nghị ở lại mạng. Vậy tôi gửi khiếu nại đề nghị cho tôi được chuyển từ mạng Viettel sang mạng Vinaphone và giữ nguyên số.
Xem chi tiết
avatar
Định nghĩa Dịch vụ phần mềm theo Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15
Theo Luật Công nghiệp Công nghệ số số 71/2025/QH15, khoản 2, Điều 13 liệt kê các sản phẩm công nghệ số gồm sản phẩm phần cứng, sản phẩm phần mềm và sản phẩm nội dung số. Điều 3, Khoản 13 định nghĩa: Cung cấp dịch vụ công nghệ số là việc thực hiện một hoặc một số hoạt động: Tư vấn, thiết kế, cài đặt, tích hợp, quản lý, vận hành, đào tạo, số hóa, xử lý dữ liệu, bảo hành, bảo trì, sửa chữa, tân trang, xuất bản, phân phối sản phẩm công nghệ số cung cấp các sản phẩm công nghệ số dưới dạng dịch vụ và dịch vụ công nghệ số khác. Theo đó, dịch vụ tư vấn, thiết kế, cài đặt, tích hợp, quản lý, vận hành, đào tạo, số hóa, xử lý dữ liệu, bảo hành, bảo trì, sửa chữa, tân trang, xuất bản, phân phối các sản phẩm phần mềm tại khoản 2, Điều 13 Luật này có được gọi là Dịch vụ phần mềm hay không?
Xem chi tiết
avatar
Khiếu nại về việc cấp bằng
Công ty TNHH Cosmetics Profession Việt Nam ngày 26/06/2023 có làm tờ khai thống nhất việc nhận diện thương hiệu. Trước đó công ty đã được Cục SHTT cấp văn bằng cho logo hình và chữ : Galanzer , chúng tôi có bổ sung phần Slogan: Trường tồn giá trị - Vững bước tương lai. Do thời gian quá lâu, chúng tôi không lưu hóa đơn thu lệ phí của Cục SHTT. Chúng tôi nhận được công văn của Cục SHTT từ chối cấp bằng vì lý do không nộp lệ phí . Nay chúng tôi làm bản kiến nghị này xin phép được đóng lệ phí theo quy định của nhà nước và được cấp bằng theo đúng luật định. Chúng tôi xin cảm ơn
Xem chi tiết

Danh sách câu hỏi khác

Tổng hợp những câu hỏi mới được giải đáp của các chuyên mục

Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Xem tất cả
avatar
Đề nghị hướng dẫn một số nội dung liên quan đến nhãn hàng hóa quy định tại Nghị định số 37/2026/ NĐ-CP
Kính gửi: Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT NAM PHƯƠNG đã gửi câu hỏi xin được Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia hướng dẫn một số nội dung liên quan đến Nghị định số 37/2026/NĐ-CP về nhãn hàng hóa sáng nay. Tuy nhiên, vì công văn đính kèm câu hỏi chúng tôi gửi ở định dạng pdf nên không rõ phần mềm có chấp nhận định dạng này không hay bắt buộc phải là file ảnh video. Do đó, chúng tôi xin phép được gửi lại chi tiết câu hỏi ở phần nội dung để Quý Cơ quan tiện theo dõi như sau: Câu hỏi 1. Trường hợp trên nhãn gốc của nhà sản xuất thể hiện xuất xứ bằng một cụm từ tiếng Anh khác với các cụm từ được nêu ra trong Khoản 2 và khoản 3 của Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, nhưng có ý nghĩa tương đương thì có được chấp nhận hay không. Ví dụ manufactured in coun of origin manufactured by “Coun of manufacture”, “bottled in”, “blended in”, “completed in”, “packed in”, “labeled in”,… Câu hỏi 2. Trường hợp nhãn gốc của nhà sản xuất thể hiện thông tin “Made in USA of US and Foreign Components”, cách ghi này có phù hợp quy định không Trên nhãn phụ bắt buộc phải dịch đầy đủ nội dung “Sản xuất tại Mỹ từ các thành phần có nguồn gốc từ Mỹ và nước khác” hay chỉ cần ghi ngắn gọn “Sản xuất tại Mỹ” Câu hỏi 3. - Khoản 1 Điều 47 của Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định như sau: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia”. - Điểm b khoản 2 Điều 42 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định xuất xứ hàng hóa trên nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam như sau: “Tên nước hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ hàng hóa trên nhãn gốc được viết tắt theo quy định tại TCVN 7217-1” - Theo ISO 15223-1 Medical devices - Symbols to be used with medical device labels, labelling and information to be supplied Các biểu tượng được sử dụng trên nhãn thiết bị y tế, ghi nhãn và các thông tin được cung cấp: “Nước sản xuất” được thể hiện bằng biểu tượng hình nhà máy rỗng, viền đen, bên trong là mã quốc gia 2 hoặc 3 ký tự, mã quốc gia này được diễn giải là mã được quy định trong ISO 3166-1 như file đính kèm. Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất đã và đang sử dụng biểu tượng nêu trên theo quy định trong ISO15223-1 để thể hiện xuất xứ của hàng hóa. Việt Nam là thành viên của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO từ năm 1977 đồng thời TCVN 7217-1 là tiêu chuẩn Việt Nam tương đương với ISO 3166-1, quy định mã và tên nước, vùng lãnh thổ sử dụng thống nhất trong trao đổi thông tin, thương mại, hải quan và thống kê đáp ứng các quy định nêu trên. Vậy, trường hợp nhãn gốc của hàng hóa sử dụng biểu tượng thể hiện nước sản xuất theo ISO 15223-1 kèm mã quốc gia theo ISO 3166-1, thì cách thể hiện xuất xứ này trên nhãn gốc của hàng hóa có được chấp nhận theo quy định của Nghị định hay không . Câu hỏi 4. Theo quy định của Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, thông tin Hạn sử dụng trên nhãn hàng hóa có bắt buộc phải đầy đủ ngày, tháng, năm hay không . Câu hỏi 5. Đối với các hàng hóa nhập khẩu mà trên nhãn gốc chỉ thể ngày hết hạn ở dạng: tháng, năm thì có thể hiểu ngày hết hạn là ngày cuối cùng của tháng đó hay không. Lý do: Nghị định số 37/2026/NĐ-CP không còn hướng dẫn này như quy định trước đây tại khoản 11 Điều 3 Nghị định 43/2017/NĐ-CP, theo đó: “Trường hợp hạn dùng chỉ thể hiện tháng, năm thì hạn dùng được tính đến ngày cuối cùng của tháng hết hạn”. Câu hỏi 6. Đối với hàng hóa nhập khẩu có nhãn gốc chỉ thể hiện thông tin ngày hết hạn ở dạng tháng, năm như ví dụ nêu trên và trong trường hợp ngày hết hạn được hiểu là ngày cuối cùng của tháng đó, doanh nghiệp có thể ghi thông tin hạn sử dụng trên nhãn phụ như sau hay không: Hạn sử dụng: xem “Exp.”trên nhãn gốc định dạng năm - tháng, ngày hết hạn được tính là ngày cuối cùng của tháng hết hạn ghi trên nhãn gốc. Trường hợp cách ghi trên chưa phù hợp với quy định của Nghị định số 37/2026/NĐ-CP kính mong Quý cơ quan hướng dẫn phương thức thể hiện thông tin hạn sử dụng phù hợp trong trường hợp này. Câu hỏi 7. Trong thời gian tới Bộ Khoa học và Công nghệ có kế hoạch ban hành Thông tư hoặc văn bản hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đối với các quy định liên quan đến nhãn hàng hóa không. Công ty xin cảm ơn và kính mong nhận được ý kiến hướng dẫn của Quý cơ quan đối với các nội dung nêu trên trong thời gian sớm nhất.
Xem chi tiết

Các câu hỏi khác:

Sở hữu trí tuệ

Xem tất cả
avatar
Khiếu nại về việc cấp bằng
Công ty TNHH Cosmetics Profession Việt Nam ngày 26/06/2023 có làm tờ khai thống nhất việc nhận diện thương hiệu. Trước đó công ty đã được Cục SHTT cấp văn bằng cho logo hình và chữ : Galanzer , chúng tôi có bổ sung phần Slogan: Trường tồn giá trị - Vững bước tương lai. Do thời gian quá lâu, chúng tôi không lưu hóa đơn thu lệ phí của Cục SHTT. Chúng tôi nhận được công văn của Cục SHTT từ chối cấp bằng vì lý do không nộp lệ phí . Nay chúng tôi làm bản kiến nghị này xin phép được đóng lệ phí theo quy định của nhà nước và được cấp bằng theo đúng luật định. Chúng tôi xin cảm ơn
Xem chi tiết

Các câu hỏi khác:

Khoa học và Công nghệ

Xem tất cả
avatar
Về việc Hướng dẫn thủ tục thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ khi đốt bổ sung CTRCN thông thường tại Nhà máy điện rác Phú Sơn.
Chúng tôi là Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB Thừa Thiên Huế gọi tắt là “Công ty EB Huế” là chủ đầu tư “Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Phú Sơn, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế nay thuộc Phường Phú Bài, Thành phố Huế gọi tắt là “Nhà máy điện rác Phú Sơn”, căn cứ theo Phụ lục II và Phụ lục III kèm theo Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường thì Dự án Nhà máy điện rác Phú Sơn thuộc danh mục loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Dự án Nhà máy điện rác Phú Sơn đã nhận được văn bản số 4049 BTNMT-TCMT ngày 28 7 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường V v ý kiến về công nghệ đốt chất thải rắn sinh hoạt Quyết định số 118/QĐ-STNMT ngày 30/3/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế về việc phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án Nhà máy điện rác Phú Sơn và Giấy phép môi trường số 45/GPMT-UBND ngày 10/8/2023 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nay là UBND thành phố Huế. Ngoài ra, Dự án Nhà máy điện rác Phú Sơn đã được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nay là UBND thành phố Huế thống nhất chủ trương bổ sung ngành nghề xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường CTRCNTT tại Thông báo số 315/TB-UBND ngày 05/9/2019, sau đó Công ty EB Huế đã điều chỉnh, bổ sung vào Giấy chứng nhận đầu tư số 6516357594, thay đổi lần thứ tư ngày 25/12/2023. Hiện nay, Công ty EB Huế đang nghiên cứu để có thể đốt bổ sung CTRCNTT tại Nhà máy điện rác Phú Sơn kể từ ngày 09 2 2026 áp dụng theo Quy chuẩn quốc gia QCVN 30:2025 BNNMT quy định các yêu cầu kỹ thuật của Lò đốt chất thải. Việc đốt bổ sung CTRCNTT không dẫn tới thay đổi quy mô, công suất của Nhà máy điện rác Phú Sơn, không làm thay đổi công nghệ đang áp dụng của Nhà máy, không áp dụng công nghệ mới, không phát sinh việc phải xây dựng thêm các công trình của Nhà máy hiện hữu không phải bổ sung thêm các dây chuyền máy móc, thiết bị và đặc biệt không phải bổ sung thêm các công trình bảo vệ môi trường đã được phê duyệt. Công ty EB Huế đã đối chiếu quy chuẩn kỹ thuật về lò đốt chất thải và chất lượng khí thải sau xử lý lò đốt của Nhà máy điện rác Phú Sơn theo QCVN 30:2025 BNNMT và QCVN 19:2024 BTNMT: Lò đốt chất thải, và chất lượng khí thải sau xử lý lò đốt của Nhà máy điện rác Phú Sơn đáp ứng đầy đủ các quy định theo QCVN 30:2025 BNNMT và QCVN 19:2024 BTNMT được thể hiện tại Phụ lục đính kèm Văn bản này. Theo công văn số 8743 BNNMT-MT ngày 05/11/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thì “Đối với nội dung về thẩm định công nghệ: Đề nghị quý Công ty liên hệ với Bộ Khoa học và Công nghệ để được hướng dẫn theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ”. Vì vậy, bằng văn bản này, Công ty EB Huế đề nghị được đốt bổ sung thêm CTRCN thông thường cùng với chất thải rắn sinh hoạt theo QCVN 30:2025 BNNMT kể từ ngày 09/2/2026 như đã nêu trên và xin hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ đối với trường hợp dự án đã thực hiện và đã có ý kiến về công nghệ, cụ thể: “Công ty EB Huế có phải thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ khi đốt bổ sung CTRCN thông thường tại Nhà máy điện rác Phú Sơn hay không ”. Trân trọng cám ơn
Xem chi tiết

Các câu hỏi khác:

Bưu chính, viễn thông

Xem tất cả
avatar
MobiFone làm khó dễ không cho chuyển mạng giữ số sang Viettel
Tôi thường cần di chuyển đến những vùng sâu, vùng xa thậm chí ngay tại khu vực tôi đang sinh sống thì chất lượng dịch vụ mạng của MobiFone quá kém nên thường xuyên xảy ra tình trạng mất sóng liên lạc, mạng 4G không thể sử dụng. Điều này gây bất tiện cho tôi nên tôi không còn nhu cầu tiếp tục sử dụng mạng MobiFone nữa. Tôi đã gửi yêu cầu chuyển mạng giữ số số thuê bao 0789890505 của tôi từ MobiFone sang Viettel để tiếp tục sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên phía MobiFone vẫn lấy lý do rằng tôi không đạt điều kiện chuyển mạng để từ chối yêu cầu của tôi. Tôi đã nhiều lần liên hệ với Trung tâm CSKH cũng như cửa hàng MobiFone để được hỗ trợ, giải đáp cụ thể nhưng đến nay tôi vẫn chưa được chuyển mạng. Điều này khiến tôi mất rất nhiều thời gian, công sức và gây bức xúc. Việc đi lại, liên lạc để giải quyết vấn đề quá mất công sức và thời gian nên tôi không muốn trao đổi gì với họ nữa. Kính nhờ Bộ can thiệp, giúp đỡ tôi được chuyển mạng nhanh chóng. Trân trọng cảm ơn.
Xem chi tiết

Các câu hỏi khác:

Chuyển đổi số

Xem tất cả
avatar
Đối tượng được hưởng mức hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 179/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ
Kính gửi Quý Bộ. Tại điều 2, Thông tư số 23/2025/TT-BKHCN về “hướng dẫn xác định vị trí việc làm chuyên trách về chuyển đổi số được hưởng mức hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 179/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ” quy định đối tượng được hưởng hỗ trợ theo Nghị định 179/2025/NĐ-CP là “Viên chức đảm nhiệm vị trí việc làm chuyên trách về công nghệ thông tin”. Bản thân tôi được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm chuyên trách về công nghệ thông tin, đã có quyết định bổ nhiệm vào ngạch công nghệ thông tin hạng III và có quyết định giao nhiệm vụ chuyên trách chuyển đổi số của đơn vị. Căn cứ theo quy định của Thông tư số 23/2025/TT-BKHCN thì tôi thấy mình đủ điều kiện để được hưởng mức hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 179/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ. Tuy nhiên hiện tại tôi không được hưởng vì thiếu chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công nghệ thông tin, do chưa sắp xếp được thời gian và kinh phí để học lớp bồi dưỡng chứng chỉ. Như vậy có đúng không? Nếu thế rất thiệt thòi cho những người làm công tác chuyển đổi số như tôi. Xin cảm ơn quý Bộ.
Xem chi tiết

Các câu hỏi khác:

Cổng thông tin điện tử các đơn vị thuộc Bộ

Doanh nghiệp

Top