Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Chi tiết Hỏi đáp thuộc lĩnh vực

Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Nhãn gốc hàng hóa nhập khẩu

Trần Long Thái - 04:55 22/06/2026

Trong quá trình thực hiện ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp gặp phải khó khăn, vướng mắc như sau: Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa là thuốc thú y đã được cấp phép lưu hành tại Việt Nam với số đăng ký lưu hành BIV-15. Sản phẩm này được sản xuất để xuất khẩu cho nhiều thị trường, không chỉ riêng Việt Nam, nên sử dụng nhãn gốc chung. 1. Tại thời điểm thiết kế và in ấn nhãn gốc, số đăng ký lưu hành tại Việt Nam chưa được cấp, nên vị trí số đăng ký được nhà sản xuất thể hiện dưới dạng “BIV-xxx”. Trong đó, “xxx” chỉ là phần giữ chỗ placeholder cho các ký tự sẽ được thay thế bằng số đăng ký chính thức sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp. 2. Sau khi được cấp phép, doanh nghiệp đã có lộ trình hoàn chỉnh thông tin này trên nhãn gốc. Trong thời gian chuyển tiếp, doanh nghiệp dự kiến nhập khẩu hàng hóa có nhãn gốc đã in ấn trước đó ghi BIV-xxx và thực hiện bổ sung nhãn phụ ghi đúng số đăng ký lưu hành đã được cấp là BIV-15 trước khi đưa ra lưu thông và giữ nguyên nhãn gốc. Như vậy, việc thực hiện ghi nhãn phụ trong trường hợp này có phù hợp quy định hiện hành . Kính mong Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, có ý kiến hướng dẫn để doanh nghiệp biết, hiểu và thực hiện. Xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào. .

Trả lời

Ngày 07/5/2026, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã có Công văn số 1494/TĐC-HCHQ gửi ông Trần Long Thái trả lời nội dung kiến nghị đã nêu, cụ thể: Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia nhận được câu hỏi của Ông trên Cổng thông tin phản ánh kiến nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ghi nhãn gốc hàng hóa. Sau khi xem xét, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia có ý kiến như sau: 

1. Tại khoản 2 Điều 42 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định: 

“2. Nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bắt buộc phải thể hiện bằng nhãn vật lý có các nội dung sau bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt khi làm thủ tục thông quan: 

a) Tên hàng hóa; 

b) Xuất xứ hàng hóa; Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Nghị định này; Tên nước hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ hàng hóa trên nhãn gốc được viết tắt theo quy định tại TCVN 7217-1;

 c) Tên đầy đủ hoặc tên viết tắt và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài; 

Trường hợp trên nhãn gốc hàng hóa chưa thể hiện tên đầy đủ và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài thì các nội dung này phải thể hiện đầy đủ trong tài liệu kèm theo hàng hóa hoặc trong chứng từ của lô hàng; 

Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nhãn gốc tiếng nước ngoài theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện việc bổ sung nhãn hàng hóa ghi bằng tiếng Việt theo quy định tại khoản 1 Điều này trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại thị trường Việt Nam”. 

2. Tại Điều 40 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định ghi nhãn phụ như sau: 

“1. Nhãn phụ sử dụng đối với hàng hóa xuất khẩu quy định tại khoản 4 Điều 42 và hàng hóa nhập khẩu quy định tại khoản 2 Điều 42 của Nghị định này. 

2. Nhãn phụ phải được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm của hàng hóa và không được che khuất những nội dung bắt buộc của nhãn gốc theo quy định của pháp luật Việt Nam. 

 Nhãn phụ có thể được thể hiện bằng nhãn điện tử theo quy định tại Chương IV Nghị định này, nhưng phải giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa và phải chỉ dẫn rõ để người tiêu dùng nhận biết. 

3. Nội dung ghi trên nhãn phụ là nội dung dịch ra tiếng Việt từ các nội dung bắt buộc ghi trên nhãn gốc và bổ sung các nội dung bắt buộc khác còn thiếu theo tính chất của hàng hóa theo quy định tại Nghị định này. Tổ chức, cá nhân ghi nhãn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung ghi. Nội dung ghi trên nhãn phụ gồm cả nội dung được ghi bổ sung không làm hiểu sai nội dung trên nhãn gốc và phải phản ánh đúng bản chất và nguồn gốc của hàng hóa”. 

3. Tại khoản 3 Điều 26 Thông tư số 13/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định về quản lý thuốc thú y có quy định: “3. Thuốc thú y nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn gốc chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của thuốc”. 

Căn cứ các quy định trên, nhãn gốc của thuốc thú y nhập khẩu bắt buộc phải có 03 nội dung bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài gồm: Tên hàng hóa; Xuất xứ hàng hóa; Tên đầy đủ hoặc tên viết tắt và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài. 

Các nội dung bắt buộc khác của thuốc thú y nhập khẩu, trên nhãn gốc chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của thuốc theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Thông tư số 13/2016/TT-BNNPTNT. Tuy nhiên, nội dung “Số đăng ký lưu hành” là nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn thuốc thú y theo quy định tại Điều 27 Thông tư số 13/2016/TT-BNNPTNT. 

Do đó, trường hợp nhãn gốc đang thể hiện số đăng ký lưu hành được thể hiện bằng ký hiệu giữ chỗ “BVI-XXX” in trước thời điểm được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam, sau khi được cấp số đăng ký chính thức, doanh nghiệp bổ sung nhãn phụ ghi số đăng ký lưu hành đã được cấp trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông đề nghị Ông tham khảo thêm ý kiến hướng dẫn từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan quản lý chuyên ngành đối với thuốc thú y. 

Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia có ý kiến gửi Ông để biết, thực hiện.