Tiến bộ kỹ thuật "chạm ngõ" vùng nông thôn
Nhiều năm qua, chăn nuôi gia súc tại khu vực nông thôn, miền núi chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tận dụng con giống địa phương, tốc độ tăng trưởng chậm và hiệu quả kinh tế thấp. Bài toán đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi từ tập quán chăn nuôi truyền thống sang quy mô hàng hóa giá trị gia tăng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và mang lại nguồn thu ổn định cho bà con nông dân?
Lời giải đã từng bước được hiện thực hóa khi Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt và triển khai dự án "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình chăn nuôi bò thịt lai thương phẩm thành hàng hóa" trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025.

Cán bộ kỹ thuật Công ty cổ phần Nông sản sạch Bắc Giang theo dõi, kiểm tra bò. (Ảnh: Báo Bắc Ninh).
Dự án do Công ty cổ phần nông nghiệp sạch Bắc Giang làm chủ trì. Cơ quan chủ quản là UBND tỉnh Bắc Ninh.
Dự án nhằm xây dựng thành công mô hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm bò lai BBB (Blanc Blue Belge) góp phần phát triển chăn nuôi bò hàng hóa theo hướng tập trung và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi bò trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Chương trình đã tạo cầu nối vững chắc, đưa giải pháp kỹ thuật từ các viện, trường và cơ quan nghiên cứu đầu ngành về tận chuồng trại của doanh nghiệp và nông hộ.
Từ con giống chuẩn đến quy trình khép kín
Khác biệt lớn nhất của mô hình chính là tính đồng bộ và chuẩn hóa trong ứng dụng KH&CN. Thay vì các giống bò truyền thống, dự án đưa vào ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo tiên tiến với các tổ hợp giống bò thịt chuyên dụng cao sản, nổi bật là tinh bò lai BBB trên nền đàn bò cái địa phương/bò lai Sind. Bê lai sinh ra sở hữu ưu thế vượt trội, tăng trọng nhanh, ngoại hình cơ bắp nở nang, tỷ lệ thịt xẻ cao và chất lượng thịt mềm, thơm ngon, đáp ứng nhu cầu cao của thị trường.
Một trong những hạn chế của chăn nuôi bò thịt quy mô lớn là thức ăn thô xanh. Thông qua chuyển giao kỹ thuật từ dự án, người dân và doanh nghiệp chủ trì đã làm chủ kỹ thuật ủ chua thức ăn thô xanh kết hợp men vi sinh, tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp (thân cây ngô, rơm rạ, bã mía); Phối trộn khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) theo từng giai đoạn sinh trưởng và vỗ béo, giúp bò đạt trọng lượng xuất chuồng tối ưu trong thời gian ngắn nhất.
Quy trình chuồng trại khép kín ứng dụng đệm lót sinh học, chế phẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ và định kỳ tiêm phòng dịch tễ nghiêm ngặt. Phân bón vi sinh sau xử lý được tái sử dụng để thâm canh đồng cỏ, tạo thành vòng tuần hoàn kinh tế xanh không gây mùi và không ô nhiễm nguồn nước.
Xây dựng vùng nuôi bò tập trung
Bắc Giang có khí hậu thời tiết ôn hòa, nguồn thức ăn dồi dào. Các địa phương trong tỉnh có điều kiện thuận lợi để chăn nuôi đại gia súc. Mặc dù số lượng đàn bò lớn (khoảng 120 nghìn con) nhưng qua đánh giá, chăn nuôi bò tại các địa phương còn hạn chế, giống bò nhỏ (bình quân xuất chuồng 161,75 kg/con); chế độ nuôi dưỡng chăm sóc đơn giản, thức ăn cho bò chủ yếu từ cỏ tự nhiên nên thiếu về số lượng, không bảo đảm chất lượng. Kỹ thuật chăn nuôi chủ yếu thủ công, tác động khoa học kỹ thuật chưa nhiều nên hiệu quả không cao.
Để khắc phục, từ nguồn vốn chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.
Tháng 12/2020, Công ty Cổ phần Nông nghiệp sạch Bắc Giang được Bộ KH&CN giao thực hiện dự án "Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây dựng mô hình chăn nuôi bò thịt lai BBB thương phẩm thành hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang".
Thực hiện dự án, Công ty Cổ phần Nông nghiệp sạch Bắc Giang lựa chọn xã Quang Minh (Hiệp Hòa) xây dựng trang trại, liên kết với 62 hộ tại các thôn: Hương Thịnh, Hữu Định, Phú Cốc (cùng xã Quang Minh) chọn 150 bò nái nền Zebu bảo đảm tiêu chuẩn để đưa về trang trại chăm sóc và cho lai tạo với bò BBB. Tại đây, bò được thăm khám theo các chu kỳ của thai kỳ, ăn thức ăn giàu đạm như: Cỏ đậu, cỏ hỗn hợp... Quá trình chăm sóc, doanh nghiệp hỗ trợ toàn bộ chi phí phối giống, kỹ thuật chăm sóc, các hộ liên kết chỉ chi một phần kinh phí thức ăn.
Sau 3 năm triển khai, Dự án đã tiếp nhận và làm chủ được các quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò lai BBB:
- Thụ tinh nhân tạo cho bò; Chăn nuôi bò thịt từ con lai F1BBB; Thú y phòng bệnh cho bò; Trồng cây thức ăn thô xanh; Chế biến cây thức ăn thô xanh làm thức ăn cho bò; chế biến và sử dụng thức ăn TMR cho bò.
- Mô hình tạo con lai F1 (BBB x cái nền lai Zebu) bằng công nghệ thụ tinh nhân tạo, để tạo 100 con bê/năm, khối lượng bê sơ sinh > 28 kg/con. Mô hình chăn nuôi tập trung 300 con bò thịt F1BBB, tăng trọng bình quân ≥850g/ngày; giai đoạn nuôi vỗ béo ≥1.000g/ngày, tỷ lệ thịt xẻ ≥ 60%. Mô hình chăn nuôi vệ tinh 15 con bò thịt F1BBB trong 03 hộ dân tăng trọng bình quân ≥800g/ngày; giai đoạn nuôi vỗ béo ≥ 900g/ngày.
- Mô hình trồng cây thức ăn thô xanh với quy mô 30 ha (cỏ voi 25 ha năng suất >250 tấn/ha/năm; 05 ha cây ngô năng suất > 40 tấn/ha/vụ).
- Mô hình chế biến thức ăn (TMR) quy mô 15- 20 tấn/ngày; ủ chua thức ăn 100-150 tấn/bể ủ chua.
- Phần mềm, sử dụng thiết bị vòng SCR để quản lý, theo dõi sinh trưởng, phát triển đàn bò.
- Đào tạo được 10 kỹ thuật viên; tổ chức 04 lớp tập huấn kỹ thuật cho 200 lượt người dân.
Vai trò dẫn dắt của Bộ KH&CN
Thành công của mô hình chăn nuôi bò thịt lai thương phẩm thể hiện vai trò đồng hành của Bộ KH&CN trong khơi thông nguồn lực đầu tư có trọng tâm.
Thông qua cơ chế đặt hàng từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025, Bộ KH&CN đã huy động hiệu quả nguồn ngân sách khoa học nhà nước làm vốn mồi, kích hoạt vốn đối ứng của doanh nghiệp và sự tham gia của hàng trăm hộ dân địa phương.

Ứng dụng KH&CN phát triển chăn nuôi bò.
Cùng với đó là thúc đẩy liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông), gắn liền với vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp/hợp tác xã chủ trì, đóng vai trò đầu mối tiếp nhận chuyển giao quy trình từ nhà khoa học, cung cấp con giống, thức ăn kỹ thuật và cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra cho bà con. Cách làm này giúp giảm thiểu rủi ro "được mùa mất giá" vốn đè nặng lên vai người nông dân.
Không chỉ hỗ trợ vật tư, dự án đã tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo kỹ thuật viên cơ sở và nâng cao kỹ năng thực hành cho các hộ chăn nuôi. Từ tâm lý e dè, người nông dân vùng sâu, vùng xa đã tự tin làm chủ công nghệ phối giống nhân tạo, lập sổ theo dõi tăng trọng và điều trị bệnh thông thường cho vật nuôi.
Nhờ triển khai Dự án đã giúp người dân tăng thu nhập. Nuôi một con bò lai thương phẩm chuyên thịt sau 16 – 20 tháng có thể đạt trọng lượng từ 500 – 650 kg, mang lại lợi nhuận cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với chăn nuôi bò vàng truyền thống. Nhiều hộ đồng bào nông thôn, miền núi nhờ đó không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên thành những điển hình làm giàu tại địa phương.
Dự án cũng đã hình thành vùng nguyên liệu bò thịt tập trung, mở đường cho việc xây dựng nhãn hiệu thịt bò sạch, liên kết với các chuỗi siêu thị và bếp ăn công nghiệp.
Có thể khẳng định, sự đồng hành, hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng hệ thống quản lý KH&CN các địa phương đã đưa những tiến bộ kỹ thuật hiện đại thành "chìa khóa vàng" mở ra sinh kế mới.
Mô hình chăn nuôi bò thịt lai không chỉ là bài học thành công về chuyển giao công nghệ, mà còn là điểm tựa vững chắc để nông nghiệp - nông thôn Việt Nam ngày một phát triển trên hành trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.