Ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm chè
Với hơn 22.200ha chè, sản lượng gần 280.000 tấn chè búp tươi mỗi năm, Thái Nguyên đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ trồng, chăm sóc, chế biến đến quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Nền tảng số hỗ trợ các hợp tác xã trong quá trình quảng bá sản phẩm chè.
Tại Hợp tác xã Trà Quê em, 18 hộ liên kết đang phát triển vùng nguyên liệu gần 6ha, trong đó 5ha được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ, diện tích còn lại áp dụng quy trình VietGAP.
Hợp tác xã chủ động đầu tư công nghệ chế biến, ứng dụng các nền tảng số để quảng bá, giới thiệu sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đến nay, sản phẩm trà tôm nõn đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, tạo tiền đề nâng hạng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Trong khi đó, Công ty CP Chè Tân Cương Hoàng Bình tại xã Quyết Thắng đã ứng dụng hệ thống tự động hóa vào các công đoạn sao, vò và đóng gói chè. Công nghệ nhiệt điện cùng hệ thống điều khiển nhiệt độ chính xác giúp tăng năng suất, tiết kiệm nhân công và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định.
Bên cạnh hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, doanh nghiệp còn chú trọng phát triển vùng nguyên liệu hữu cơ, đẩy mạnh thương mại điện tử nhằm mở rộng thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu.
Hướng tới số hóa 70% diện tích chè vào năm 2030
Không chỉ dừng lại ở từng cơ sở sản xuất, Thái Nguyên đang hướng tới xây dựng hệ sinh thái số ngành chè, lấy dữ liệu làm nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý, sản xuất và tiêu thụ.
Theo Kế hoạch chuyển đổi số ngành chè giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% xã, phường có diện tích chè được thiết lập, cập nhật dữ liệu; tối thiểu 70% diện tích chè có hồ sơ số và dữ liệu bản đồ GIS ở mức phù hợp.

Công nghệ được áp dụng vào quá trình chăm sóc cây chè.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Quản lý chuyên ngành, Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên cho biết, ngành sẽ tập trung chuẩn hóa dữ liệu vùng chè, đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, thương mại số và từng bước ứng dụng công nghệ vào quản lý, sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với đó, các hoạt động tập huấn, hướng dẫn ứng dụng công nghệ tiếp tục được triển khai nhằm hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân tiếp cận các giải pháp số phù hợp với điều kiện sản xuất.
Việc kết hợp công nghệ chế biến, dữ liệu vùng trồng và thương mại điện tử không chỉ góp phần nâng cao năng suất, minh bạch nguồn gốc, bảo vệ thương hiệu chè Thái Nguyên mà còn mở ra cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, từng bước hình thành ngành chè hiện đại, phát triển bền vững.