Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Trợ lực từ Nghị quyết 68: Động lực để doanh nghiệp tư nhân nâng tầm chất lượng xuất khẩu

Thứ ba, 18/08/2026 10:42

Một lô hàng có thể rẻ, có thể đẹp, nhưng sẽ phải quay đầu nếu không chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu hay quy trình kiểm soát rủi ro. Đối mặt với những yêu cầu khắt khe từ thị trường quốc tế, việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn (như ISO 9001, ISO 22000...) không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật, giảm thiểu lãng phí mà còn là khoản đầu tư chiến lược để xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn.

Từ một lô hàng đến câu chuyện về năng lực cạnh tranh

Trên thị trường quốc tế, một sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng về giá cả, mẫu mã nhưng vẫn khó tiếp cận thị trường nếu không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, câu chuyện không chỉ dừng ở việc sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng mà còn phải chứng minh được chất lượng đó được kiểm soát như thế nào, nguyên liệu từ đâu, quy trình sản xuất ra sao và sản phẩm có đáp ứng các quy định liên quan hay không.

Chẳng hạn, với một lô hàng nông sản, bên cạnh yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm, doanh nghiệp có thể phải đáp ứng các yêu cầu liên quan đến dư lượng hóa chất, kiểm dịch, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói hoặc truy xuất nguồn gốc tùy theo quy định của từng thị trường. Với sản phẩm công nghiệp, các yêu cầu có thể tập trung vào đặc tính kỹ thuật, độ an toàn, thành phần vật liệu, ghi nhãn hoặc các quy định về môi trường.

Điều đó cho thấy, để một sản phẩm đi được xa hơn trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp không thể chỉ chú trọng đến khâu kiểm tra thành phẩm. Chất lượng phải được kiểm soát từ nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản đến vận chuyển và phân phối.

Đây cũng là lý do tiêu chuẩn ngày càng trở thành một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp chuyển từ cách tiếp cận "kiểm tra chất lượng" sang "quản lý và phòng ngừa rủi ro về chất lượng".

Trong thương mại quốc tế, các yêu cầu kỹ thuật thường được đề cập trong khuôn khổ Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS).

Các quốc gia có quyền xây dựng quy định nhằm bảo vệ sức khỏe con người, động vật, thực vật, môi trường và đáp ứng những mục tiêu quản lý chính đáng. Tuy nhiên, các biện pháp này cần được xây dựng theo nguyên tắc minh bạch, không phân biệt đối xử và không tạo ra hạn chế thương mại không cần thiết.

Vì vậy, việc nắm bắt các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Nếu chỉ đến khi hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu mới phát hiện sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí điều chỉnh có thể lớn hơn nhiều so với việc kiểm soát ngay từ khâu thiết kế và sản xuất.

Tiêu chuẩn cung cấp những yêu cầu, nguyên tắc hoặc phương pháp được thống nhất để doanh nghiệp có cơ sở tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và đánh giá sản phẩm.

Tại Việt Nam, hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) được xây dựng, áp dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và quản lý. Việc lựa chọn, áp dụng tiêu chuẩn phù hợp giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình, kiểm soát các yếu tố đầu vào, hạn chế sai lỗi và nâng cao tính ổn định của sản phẩm.

Ở cấp độ doanh nghiệp, các tiêu chuẩn quốc tế cũng được áp dụng ngày càng phổ biến. Chẳng hạn, ISO 9001 đưa ra các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng, qua đó hỗ trợ tổ chức kiểm soát các quá trình, duy trì tính ổn định và thực hiện cải tiến liên tục.

Trong lĩnh vực thực phẩm, ISO 22000 tập trung vào hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát các mối nguy trong chuỗi thực phẩm.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận đúng rằng chứng nhận hoặc áp dụng một tiêu chuẩn cụ thể không đồng nghĩa sản phẩm đương nhiên đáp ứng toàn bộ yêu cầu của mọi thị trường. Doanh nghiệp vẫn phải nghiên cứu quy định của từng quốc gia, từng thị trường và từng nhóm sản phẩm để có phương án đáp ứng phù hợp.

Nói cách khác, tiêu chuẩn là một phần của năng lực cạnh tranh, nhưng để xuất khẩu bền vững, doanh nghiệp cần kết hợp tiêu chuẩn với năng lực công nghệ, quản trị chất lượng, kiểm nghiệm, đo lường, truy xuất nguồn gốc và khả năng thích ứng với các quy định mới.

img

Áp dụng tiêu chuẩn và hệ thống quản lý chất lượng giúp hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

Nghị quyết 68 tạo thêm động lực để doanh nghiệp nâng chất lượng

Yêu cầu nâng cao chất lượng hàng hóa cũng gắn với định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân được xác định tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đồng thời đặt mục tiêu khu vực này trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. 

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, năng lực sản xuất đơn thuần là chưa đủ. Doanh nghiệp tư nhân muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu phải từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, trình độ công nghệ và năng lực quản trị.

Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW cũng đặt vấn đề thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh doanh hiệu quả, bền vững trong khu vực kinh tế tư nhân. Trong đó có định hướng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các phòng thí nghiệm, phòng thử nghiệm, thiết bị nghiên cứu dùng chung, trung tâm thử nghiệm, đo lường, kiểm định, giám định của Nhà nước để phát triển sản phẩm. 

Đây là những yếu tố có liên quan trực tiếp đến quá trình nâng cao chất lượng hàng hóa. Một doanh nghiệp muốn phát triển sản phẩm mới, kiểm soát nguyên liệu, đánh giá đặc tính kỹ thuật hoặc chứng minh sự phù hợp của sản phẩm đều cần đến năng lực thử nghiệm, đo lường, kiểm định và các công cụ quản lý chất lượng phù hợp.

Nghị quyết 68-NQ/TW cũng định hướng ưu tiên một phần nguồn tín dụng thương mại cho doanh nghiệp tư nhân, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tín dụng xuất khẩu.

Như vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm không nên được nhìn nhận là khoản chi phí đơn thuần để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Nếu được thực hiện đúng hướng, đây có thể trở thành khoản đầu tư vào năng lực cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp.

Một sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn có thể giúp doanh nghiệp giảm rủi ro trong sản xuất và thuận lợi hơn khi làm việc với đối tác. Nhưng mục tiêu cao hơn là biến chất lượng thành lợi thế cạnh tranh và giá trị thương hiệu.

Để làm được điều này, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với quy mô và lĩnh vực hoạt động; chuẩn hóa quy trình sản xuất; kiểm soát nguyên vật liệu; tăng cường năng lực kiểm nghiệm, đo lường; ứng dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.

Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, việc theo dõi thường xuyên các thay đổi về quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường cũng cần được xem là một phần của hoạt động quản trị.

Trong thực tế, cùng một sản phẩm nhưng mỗi thị trường có thể đặt ra những yêu cầu khác nhau. Do đó, tư duy "sản xuất trước, tìm thị trường sau" ngày càng bộc lộ hạn chế. Doanh nghiệp cần chuyển sang cách tiếp cận dựa trên nhu cầu thị trường, thiết kế sản phẩm phù hợp và kiểm soát chất lượng ngay từ đầu.

Khi chất lượng được tích hợp vào toàn bộ chuỗi sản xuất, tiêu chuẩn không chỉ là công cụ giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn góp phần giảm lãng phí, ổn định sản xuất, nâng năng suất và củng cố niềm tin của khách hàng.

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục mở rộng hội nhập và đặt mục tiêu nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu, nâng chất lượng hàng hóa vì thế không còn là lựa chọn mang tính ngắn hạn. Đó là một phần của quá trình nâng cấp năng lực doanh nghiệp, đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW.

Từ tiêu chuẩn đến thị trường quốc tế là một hành trình dài, trong đó mỗi quy trình được chuẩn hóa, mỗi chỉ tiêu chất lượng được kiểm soát và mỗi dữ liệu được truy xuất minh bạch đều góp phần tạo dựng năng lực cạnh tranh mới cho hàng hóa Việt Nam.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm