Lần đầu xác lập khung pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số
Điểm nổi bật của Luật Chuyển đổi số là lần đầu tiên điều chỉnh toàn diện quá trình chuyển đổi số của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Luật gồm 8 chương, 48 điều, quy định các vấn đề nền tảng về nguyên tắc, chính sách, cơ chế điều phối quốc gia, biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
Một trong những điểm mới quan trọng là yêu cầu các hệ thống số phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, liên thông, có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu. Việc xây dựng, phát triển các hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số phải tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia và Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia.
Bên cạnh đó, luật quy định 5 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm ngăn chặn việc phá hoại, can thiệp trái phép vào hệ thống, dữ liệu, nền tảng số; khai thác dữ liệu trái quy định; lợi dụng công nghệ số để lừa đảo, trục lợi hoặc tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh.
Đáng chú ý, Nhà nước bảo đảm chi hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách cho chuyển đổi số, trong tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để các nhiệm vụ chuyển đổi số được triển khai ổn định, đồng bộ hơn trong thời gian tới.

Luật Chuyển đổi số năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, lần đầu xác lập khung pháp lý thống nhất cho phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Luật cũng quy định 5 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm ngăn chặn việc phá hoại, can thiệp trái phép vào hệ thống, dữ liệu, nền tảng số; khai thác dữ liệu trái quy định; lợi dụng công nghệ số để lừa đảo, trục lợi hoặc tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh. Đồng thời, luật xác định 8 nội dung quản lý nhà nước, từ xây dựng chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật đến quản lý, giám sát, đo lường hiệu quả, thanh tra, xử lý vi phạm, phát triển nhân lực số và hợp tác quốc tế.
Đáng chú ý, Nhà nước bảo đảm chi hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách cho chuyển đổi số, trong tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để các nhiệm vụ chuyển đổi số được triển khai ổn định, đồng bộ hơn trong thời gian tới.
Thúc đẩy đầu tư R&D, chuyển giao công nghệ lõi
Điểm nổi bật của Luật Công nghệ cao 2025 là lần đầu tiên luật hóa các khái niệm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược và doanh nghiệp công nghệ chiến lược. Đây là nhóm công nghệ có tính đột phá, lan tỏa, góp phần nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Luật bổ sung cơ chế khuyến khích doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tham gia đầu tư, nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ cao. Viện nghiên cứu, trường đại học có hoạt động R&D cũng được khuyến khích phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đối với đầu tư nước ngoài, luật ưu tiên các dự án FDI có chuyển giao công nghệ lõi và liên kết với doanh nghiệp nội địa nhằm nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, hạn chế tình trạng thu hút đầu tư chỉ dựa vào công nghệ cũ hoặc lợi thế nhân công giá rẻ.

Luật Công nghệ cao sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, bổ sung cơ chế thúc đẩy đầu tư R&D, chuyển giao công nghệ lõi và phát triển công nghệ chiến lược.
Một điểm mới khác là doanh nghiệp công nghệ cao được phân thành hai mức ưu đãi. Trong đó, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 được hưởng mức ưu đãi cao nhất, gồm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% trong 9 năm và áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm nếu đáp ứng yêu cầu đầu tư thực chất cho R&D, với tổng chi nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hằng năm đạt tối thiểu 1% doanh thu thuần sau khi trừ giá trị đầu vào.
Luật cũng bãi bỏ giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, chuyển sang cơ chế tự đánh giá theo tiêu chí nhằm giảm thủ tục hành chính. Đồng thời, bổ sung mô hình đô thị công nghệ cao, tạo không gian tập trung cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ cao gắn với phát triển đô thị bền vững.

