Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò bằng công nghệ

Vỏ chanh leo chiếm khoảng 60-70% khối lượng quả nhưng lâu nay chủ yếu được xem là phụ phẩm. Một nhiệm vụ KH&CN tại tỉnh Đắk Nông trước sáp nhập, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, đã nghiên cứu bảo quản, lên men và xây dựng khẩu phần thức ăn cho bò thịt từ nguồn nguyên liệu này, mở hướng tận dụng nguồn lực tại chỗ, giảm áp lực thức ăn chăn nuôi và gia tăng giá trị sản xuất.

Biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò bằng công nghệ- Ảnh 1.

Kết quả nghiên cứu mở hướng tận dụng phụ phẩm chanh leo, bổ sung nguồn thức ăn tại chỗ cho chăn nuôi bò thịt.

Biến phụ phẩm thành nguyên liệu cho chăn nuôi

Trước sáp nhập, Đắk Nông có hơn 25.000 con bò, chủ yếu là bò thịt. Trong khi đó, chăn nuôi gặp khó do thiếu đồng cỏ và đất trồng cỏ thâm canh. Địa phương lại có diện tích chanh leo phát triển, kéo theo lượng lớn phụ phẩm sau thu hoạch và chế biến. Riêng phần vỏ chiếm khoảng 60-70% khối lượng quả.

Bài toán đặt ra không chỉ là xử lý lượng phụ phẩm sau thu hoạch, mà làm thế nào biến nguồn nguyên liệu này thành đầu vào có giá trị cho một ngành sản xuất khác.

Năm 2023, nhiệm vụ "Nghiên cứu biện pháp bảo quản và sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò thịt ở tỉnh Đắk Nông trước sáp nhập" được triển khai, do Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ chủ trì.

Nhóm nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng chăn nuôi bò thịt, nguồn nguyên liệu chanh leo và thành phần dinh dưỡng của vỏ chanh leo; đồng thời nghiên cứu khả năng phối trộn với các nguồn thức ăn sẵn có để xây dựng khẩu phần thức ăn hoàn chỉnh lên men (FTMR) phù hợp với bò thịt.

Biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò bằng công nghệ- Ảnh 2.

Đoàn chuyên gia kiểm tra thực tế mô hình chăn nuôi bò tại xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng.

Điểm đáng chú ý là kết quả không dừng ở xác định khả năng sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn, mà được phát triển thành quy trình công nghệ và mô hình kiểm chứng thực tế.

Sau 30 tháng thực hiện, nhiệm vụ đã hoàn thành các sản phẩm theo yêu cầu, gồm báo cáo hiện trạng chăn nuôi bò thịt và sản xuất, sử dụng chanh leo; khẩu phần FTMR; quy trình sản xuất thức ăn hoàn chỉnh lên men; 2 mô hình chăn nuôi bò thịt sử dụng khẩu phần này cùng các sản phẩm khoa học liên quan.

Biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò bằng công nghệ- Ảnh 3.

Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ đánh giá các kết quả đáp ứng yêu cầu về số lượng, khối lượng và chủng loại.

Giá trị của kết quả nằm ở một chuỗi ứng dụng tương đối hoàn chỉnh, xác định nguồn phụ phẩm, đánh giá giá trị dinh dưỡng, xây dựng khẩu phần, hoàn thiện quy trình lên men và kiểm chứng bằng mô hình chăn nuôi.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, quy trình có ưu điểm đơn giản, chi phí đầu tư không lớn, phù hợp với điều kiện sản xuất hộ và có khả năng nhân rộng. Đây là yếu tố quan trọng để một kết quả nghiên cứu đi từ đề tài đến sản xuất, nhất là tại những địa bàn mà quy mô hộ gia đình vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

Một phụ phẩm, thêm một mắt xích cho nông thôn mới

Điểm đáng chú ý của nhiệm vụ là tạo được sự kết nối giữa trồng chanh leo và chăn nuôi bò thịt – hai lĩnh vực thường được sản xuất tương đối tách rời.

Phụ phẩm từ cây trồng trở thành nguyên liệu cho vật nuôi; công nghệ bảo quản và lên men giúp tạo nguồn thức ăn có thể dự trữ, sử dụng trong chăn nuôi. Nhờ đó, giá trị của cây chanh leo không chỉ nằm ở sản phẩm chính mà còn được mở rộng sang một chuỗi sản xuất khác.

Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nơi quy mô sản xuất hộ còn nhỏ, chi phí đầu vào và khả năng tiếp cận nguồn thức ăn, kỹ thuật là những vấn đề cần được giải quyết.

Biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò bằng công nghệ- Ảnh 4.

Nhiều cơ sở sản xuất chanh dây đã được ứng dụng KH&CN vào chế biến sâu.

Ở góc độ rộng hơn, mô hình tạo thêm một mắt xích cho nông nghiệp tuần hoàn, trồng trọt cung cấp nguyên liệu cho chăn nuôi, chăn nuôi tạo thêm giá trị từ phụ phẩm, còn công nghệ là yếu tố kết nối các công đoạn trong chuỗi.

Sau nghiệm thu, Hội đồng khoa học đề nghị tiếp tục đào tạo, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật; xây dựng các mô hình trình diễn để người dân dễ tiếp cận; đồng thời tăng liên kết với các cơ sở sơ chế, chế biến chanh leo nhằm ổn định nguồn nguyên liệu. Việc nghiên cứu áp dụng kỹ thuật ủ dự trữ FTMR cũng được khuyến nghị để chủ động nguồn thức ăn theo mùa.

Đây là bước quan trọng để kết quả nghiên cứu không dừng ở hai mô hình ban đầu. Khi nguồn phụ phẩm được tổ chức thành nguyên liệu ổn định, quy trình được chuẩn hóa và người dân được hướng dẫn trực tiếp, công nghệ có thể được mở rộng sang các vùng có điều kiện sản xuất tương đồng.

Nhà nước đặt hàng và tổ chức nghiên cứu; nhà khoa học giải quyết bài toán bằng công nghệ; cơ sở sản xuất cung cấp nguồn nguyên liệu; người dân là đối tượng tiếp nhận và ứng dụng. Khi các mắt xích này được kết nối, kết quả nghiên cứu mới có cơ hội đi xa hơn phạm vi phòng thí nghiệm.

Từ phụ phẩm chiếm tới 60-70% khối lượng quả chanh leo, một hướng sử dụng mới đã được hình thành. Từ bài toán thiếu nguồn thức ăn cho bò, nhiệm vụ đã xây dựng khẩu phần, hoàn thiện quy trình và kiểm chứng bằng mô hình thực tế.

Những kết quả ấy cho thấy, khi KH&CN được đặt đúng vào nhu cầu sản xuất, mỗi lợi thế bản địa đều có thể trở thành một nguồn lực mới. Đây chính là nền tảng để các kết quả ứng dụng tiếp tục được duy trì, nhân rộng trong giai đoạn tiếp theo của Chương trình 1719, góp phần giúp người dân nông thôn sản xuất hiệu quả hơn, tạo thêm giá trị và từng bước xây dựng nông thôn mới, tạo sinh kế bền vững ngay trên nguồn lực của địa phương.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm