Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung; phát triển đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho dữ liệu, nền tảng dữ liệu và hạ tầng tính toán dùng chung theo kiến trúc thống nhất.

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đến năm 2030, Chiến lược đặt ra 3 nhóm mục tiêu trọng tâm:
i) Hoàn thiện thể chế, quản trị dữ liệu: 100% Bộ, ngành, địa phương hoàn thành Chiến lược dữ liệu, Khung kiến trúc dữ liệu và Khung quản trị, quản lý dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh; 100% Bộ, ngành, địa phương được đánh giá, xếp hạng hằng năm về mức độ phát triển và chất lượng dữ liệu.
ii) Phát triển cơ sở dữ liệu, nền tảng và hạ tầng dùng chung: 100% cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu và dữ liệu dùng chung được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống"; 100% thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện được cung cấp trên cơ sở khai thác, sử dụng lại dữ liệu, thực hiện nguyên tắc "dữ liệu thay giấy tờ".
iii) Thúc đẩy AI, kinh tế dữ liệu và thị trường dữ liệu: 100% dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu mở quốc gia được chuẩn hóa để phục vụ phát triển AI; vận hành tối thiểu 05 sàn dữ liệu; phát triển ít nhất 1.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ dữ liệu, phân tích dữ liệu, nền tảng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 30 tổ chức trung gian dữ liệu; đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 50.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức có năng lực quản trị, phân tích và khai thác dữ liệu; đào tạo kỹ năng dữ liệu, phân tích dữ liệu và ứng dụng AI cho khoảng 300.000 lượt người lao động trong doanh nghiệp; hình thành đội ngũ tối thiểu 5.000 chuyên gia dữ liệu nòng cốt.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu 100% hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu; 100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp toàn trình trên môi trường điện tử; Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì theo dõi, đánh giá chỉ tiêu khai thác Kho dữ liệu AI. Đồng thời, phối hợp xây dựng hạ tầng AI dùng chung phục vụ Chính phủ; phát triển hạ tầng tính toán hiệu năng cao và AI dùng chung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia; áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế trong thu thập, xử lý dữ liệu; thúc đẩy cơ chế thử nghiệm AI có kiểm soát, cơ chế tiếp cận hạ tầng HPC và dữ liệu AI.

