Ngày 25/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 229/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia. Nghị định gồm 39 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Nghị định số 229/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý mới, xây dựng Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia theo mô hình tài trợ nghiên cứu độc lập, minh bạch, cạnh tranh theo chuẩn mực quốc tế.
Hoạt động minh bạch, lấy kết quả và hiệu quả làm thước đo
Theo Nghị định, Quỹ hoạt động với mục tiêu thúc đẩy KH,CN&ĐMST trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, góp phần giải quyết những bài toán phát triển kinh tế - xã hội có tính liên ngành, liên vùng thông qua hoạt động tài trợ và đặt hàng các nhiệm vụ KH,CN&ĐMST.
Quỹ đồng thời hướng tới nâng cao năng lực KH&CN quốc gia; hình thành tri thức nền; góp phần làm chủ được một số công nghệ lõi, công nghệ cao, công nghệ chiến lược; phát triển đội ngũ nhà khoa học tài năng, nhà khoa học trẻ, nhóm nghiên cứu mạnh; hình thành được một số trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có uy tín trong khu vực và quốc tế.
Điểm nhấn quan trọng của Nghị định là lần đầu tiên xác lập rõ mục tiêu xây dựng Quỹ theo mô hình quỹ tài trợ nghiên cứu độc lập, minh bạch, cạnh tranh theo chuẩn mực quốc tế. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong đổi mới cơ chế đầu tư của Nhà nước cho KH,CN&ĐMST.
Nghị định cũng xác lập các nguyên tắc hoạt động hiện đại, trong đó mọi hoạt động tài trợ, đặt hàng và hỗ trợ đều được thực hiện thông qua đánh giá chuyên môn độc lập, bảo đảm tự chủ học thuật, khách quan, công khai, minh bạch, cạnh tranh; tuân thủ liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp, phòng ngừa xung đột lợi ích và không trùng lặp với các nguồn ngân sách khác.
Đáng chú ý, Quỹ chuyển mạnh từ phương thức quản lý dựa trên đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra, lấy hiệu quả và tác động của nhiệm vụ làm tiêu chí đánh giá. Cơ chế này không chỉ khuyến khích các nghiên cứu tiên phong, có tính đột phá mà còn chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi được kiểm soát, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát và quản trị rủi ro xuyên suốt quá trình triển khai nhiệm vụ, tạo điều kiện cho các nghiên cứu có tính đột phá nhưng vẫn bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước.
Mở rộng chức năng, tăng quyền chủ động cho Quỹ
Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định là hoàn thiện đầy đủ cơ sở pháp lý để Quỹ triển khai tài trợ, đặt hàng các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ KH,CN&ĐMST từ nghiên cứu cơ bản đến sản xuất thử trên hệ thống thiết bị, dây chuyền công nghệ nhằm hoàn thiện công nghệ, sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất hàng loạt.
Lần đầu tiên, nhiều phương thức hỗ trợ mới được luật hóa như tài trợ, đặt hàng mới như hỗ trợ các nhiệm vụ theo mô hình liên kết "3 Nhà"; tài trợ, đặt hàng theo kết quả đầu ra của nhiệm vụ; hỗ trợ hoạt động kiểm chứng công nghệ; hỗ trợ hình thành và phát triển hạ tầng công nghệ phục vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; hoạt động bồi dưỡng và phát triển năng lực nghiên cứu… Đây là cơ sở để Quỹ phát huy đầy đủ vai trò là công cụ tài chính quốc gia trong phát triển KH,CN&ĐMST.
Theo Nghị định, Quỹ có hai chức năng trọng tâm:
1. Tài trợ, đặt hàng thực hiện các chương trình, nhiệm vụ KH,CN&ĐMST;
2. Hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực KH&CN quốc gia.
Để thực hiện các chức năng này, Quỹ được trao quyền chủ động tiếp nhận, quản lý và sử dụng cả nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính hợp pháp ngoài ngân sách; chủ động tổ chức, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ được tài trợ, đặt hàng.
Đặc biệt, Nghị định tạo bước đột phá về cơ chế tài chính khi ngân sách nhà nước được cấp theo tổng mức hằng năm thay vì gắn với danh mục nhiệm vụ ngay từ đầu. Theo đó, ngân sách nhà nước được cấp theo tổng mức hằng năm thay vì gắn với danh mục nhiệm vụ ngay từ đầu, cho phép Quỹ chủ động lựa chọn, phê duyệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền.
Việc cấp phát, thanh toán và quyết toán kinh phí được thực hiện theo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, Quỹ được phép ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành; ký kết hợp tác với các tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; tham gia các cơ chế đồng tài trợ với doanh nghiệp, các quỹ trong nước và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và thúc đẩy hội nhập quốc tế.
Đa dạng hóa nguồn lực, hình thành hệ sinh thái tài trợ hiện đại
Một điểm nhấn của Nghị định là mở rộng cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học và công nghệ. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, Quỹ được tiếp nhận: Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp bằng tiền, hiện vật, tài sản hoặc hình thức hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Các khoản thu từ hoạt động hợp tác, liên kết, đồng tài trợ theo thỏa thuận phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quỹ; Lãi tiền gửi, các khoản thu hợp pháp khác theo quy định; Các nguồn ngoài ngân sách nhà nước tiếp nhận bằng tiền được chuyển vào tài khoản của Quỹ tại các ngân hàng thương mại.
Nghị định cũng giao Quỹ chủ động xây dựng cơ chế liên kết đồng tài trợ với doanh nghiệp, các quỹ KH&CN trong nước, quốc tế; phối hợp với các quỹ phát triển KH,CN&ĐMST ở trung ương và địa phương để hình thành hệ sinh thái tài trợ đồng bộ, tạo chuỗi hỗ trợ xuyên suốt từ nghiên cứu cơ bản, phát triển công nghệ đến đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Các điểm mới nổi bật trong Quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia.
Nội dung chi của Quỹ gồm:
- Chi tài trợ, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ KH&CN, hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực KH&CN quốc gia theo quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 6 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP;
- Chi hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực KH&CN quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này;
- Chi hoạt động quản lý điều hành và hoạt động khác của Quỹ.
Với khuôn khổ pháp lý mới, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ tài chính quốc gia hiện đại, kết nối hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo năng động, góp phần đưa hoạt động tài trợ nghiên cứu của Việt Nam từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, tạo nền tảng cho KH,CN&ĐMST trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

