Bỏ qua đến nội dung chính
Tiếng Việt English

Chọn ngôn ngữ

Bắc Ninh: KH&CN tạo đòn bẩy phát triển nông thôn, miền núi

Sau 10 năm triển khai, Chương trình Nông thôn miền núi đã đưa hàng loạt quy trình, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất tại Bắc Ninh, góp phần nâng năng suất, chất lượng nông sản, mở rộng sản xuất hàng hóa và tạo thêm sinh kế cho người dân.

Đưa công nghệ vào đời sống

Giai đoạn 2016-2025, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, bao gồm Bắc Giang và Bắc Ninh trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, đã triển khai 14 dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số theo Quyết định số 1747/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong số đó có 8 dự án trồng trọt, 4 dự án chăn nuôi và 2 dự án thủy sản. Điểm đáng chú ý là nguồn lực nhà nước đã được đặt trong mối quan hệ với nguồn lực xã hội. Các dự án không chỉ hỗ trợ kinh phí mà tập trung chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật và hình thành mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng địa bàn.

Qua 10 năm, chương trình đã tiếp nhận, áp dụng hơn 50 quy trình công nghệ, xây dựng hơn 40 mô hình sản xuất, trình diễn, đào tạo 122 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho 2.640 lượt người dân.

Từ giống, kỹ thuật canh tác đến chăn nuôi, thủy sản, sơ chế và bảo quản, công nghệ từng bước được đưa vào những khâu trực tiếp quyết định năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Quan trọng hơn, người dân được tiếp cận công nghệ ngay trên mô hình sản xuất, qua đó nâng khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thực tế.

Từ năng suất đến giá trị nông sản

Trong lĩnh vực trồng trọt, nhiều mô hình đã tạo được kết quả rõ nét. Tại huyện Yên Dũng, mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP được triển khai trên 81 ha, kết hợp nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun và sản xuất ngoài đồng ruộng.

Sau hai năm, diện tích này cho thu hoạch khoảng 2.167 tấn rau, năng suất tăng 10-15% so với sản xuất thông thường. Một số sản phẩm có giá trị cao như cà chua ăn tươi trong nhà lưới, dưa thơm, dưa lê siêu ngọt Hàn Quốc, súp lơ xanh được đưa vào sản xuất. Tổng thu từ các loại rau trong dự án đạt 29,478 tỷ đồng.

Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở sản lượng. Quy trình VietGAP, hệ thống tưới tiết kiệm và công nghệ bảo quản giúp thay đổi cách sản xuất, từng bước hình thành vùng rau an toàn tập trung và liên kết giữa nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông dân.

Với cây ăn quả, dự án sản xuất nhãn chín muộn PHM99-1.1, bưởi đỏ Hòa Bình và ổi OĐL tại huyện Tân Yên đã sản xuất 150.000 cây giống, xây dựng mô hình bưởi đỏ 30 ha, nhãn 40 ha và ổi 10 ha. Riêng mô hình ổi đạt năng suất bình quân 30 kg/cây, sản lượng 400-500 tấn.

img

Vườn ổi VietGAP tại Bắc Ninh. (Ảnh: Báo Công thương).

Với cây lúa, mô hình sản xuất lúa, gạo chất lượng cao tập trung vào giống QJ1 và CNC11, triển khai từ sản xuất giống nguyên chủng, giống xác nhận đến lúa thương phẩm và chế biến gạo. Quy mô sản xuất lúa thương phẩm đạt 200 ha tại Tân Yên, Lạng Giang, Lục Nam và Yên Dũng; mô hình thu hoạch, chế biến đạt 500 tấn gạo thương phẩm.

Một hướng đi giàu tiềm năng khác là phát triển dược liệu. Các mô hình ba kích, cà gai leo, sâm cau tại Sơn Động, Lục Nam được triển khai theo quy trình GACP-WHO, từ giống, trồng, thu hoạch đến chế biến, bảo quản. Quy mô mô hình ba kích và cà gai leo đạt 30 ha, sâm cau 20 ha.

KH&CN gắn với sinh kế và giảm nghèo

Trong chăn nuôi, các mô hình nuôi gà, bò thịt được áp dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật. Năng suất trứng gà đạt khoảng 235-250 quả/mái/chu kỳ. Mô hình nuôi vịt lai theo hướng an toàn sinh học tại Thuận Thành đã hình thành chuỗi liên kết từ con giống đến giết mổ, chế biến, với công suất 5.000 con/ngày.

Trong thủy sản, các mô hình ương, nuôi cá trắm đen, cá rô phi đơn tính đực cho tỷ lệ sống trên 70% ở khâu ương giống. Mô hình nuôi thương phẩm cá trắm đen đạt năng suất bình quân 7 tấn/ha trong 20 tháng; cá rô phi đơn tính đạt khoảng 30 tấn/ha trong 8-9 tháng. Mô hình nuôi cá nheo Mỹ tại Quế Võ, Lương Tài cho sản lượng 30-70 tấn, bảo đảm tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

KH&CN cũng được đặt trong yêu cầu sản xuất bền vững. Việc áp dụng VietGAP, GACP-WHO góp phần hạn chế sử dụng hóa chất; chế phẩm sinh học được sử dụng xử lý chất thải chăn nuôi; rơm rạ, phụ phẩm cây trồng được tận dụng làm phân bón hữu cơ vi sinh, từng bước hình thành hướng sản xuất tuần hoàn.

Chương trình đồng thời góp phần bảo hộ sở hữu trí tuệ cho 18 sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Một số sản phẩm OCOP như gạo thơm, mì, rượu làng nghề từng bước tạo dựng uy tín trên thị trường.

Nhìn từ kết quả thực tế, tác động của Chương trình Nông thôn miền núi không chỉ là đưa một quy trình kỹ thuật mới vào đồng ruộng, mà chương trình đã góp phần thay đổi phương thức sản xuất, thúc đẩy hình thành vùng sản xuất hàng hóa, phát triển sản phẩm đặc trưng và nâng năng lực của người dân.

Định hướng này có sự gắn kết với mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg. Trong đó, KH&CN phát huy vai trò hỗ trợ sinh kế thông qua lựa chọn giống, quy trình sản xuất phù hợp, phát triển sản phẩm có lợi thế, nâng chất lượng và tăng khả năng tiếp cận thị trường.

img

Đưa KH&CN đến gần hơn với sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công nghệ không thể tự tạo ra sinh kế nếu thiếu vốn, đất đai, hạ tầng và thị trường. Nhiều mô hình còn nhỏ, khó mở rộng; việc tích tụ đất đai để hình thành vùng sản xuất tập trung còn hạn chế. Liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất chưa nhiều; một số mô hình sau khi kết thúc hỗ trợ chưa duy trì được hiệu quả như ban đầu.

Đây cũng là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới. Việc lựa chọn nhiệm vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương; công nghệ chuyển giao cần phù hợp với khả năng tiếp nhận và có thể duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ. Cùng với đó là yêu cầu gắn sản xuất với doanh nghiệp, thị trường và chế biến để hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Đối với địa bàn đặc biệt khó khăn, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp hơn với khả năng đối ứng của người dân và doanh nghiệp. Tiến độ thẩm định, phê duyệt, cấp kinh phí cũng cần được đẩy nhanh, nhất là đối với các nhiệm vụ phụ thuộc mùa vụ.

Sau 10 năm, Chương trình Nông thôn miền núi tại Bắc Ninh đã tạo được nền tảng quan trọng để đưa KH&CN đến gần hơn với sản xuất nông nghiệp. Từ những mô hình rau an toàn, cây ăn quả, lúa chất lượng cao, dược liệu đến chăn nuôi, thủy sản, công nghệ đang từng bước chuyển hóa lợi thế địa phương thành giá trị kinh tế.

Giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm mô hình mới, mà là làm cho những mô hình hiệu quả có thể sống được bằng thị trường, được duy trì bằng năng lực của người dân và mở rộng bằng nguồn lực của doanh nghiệp. Khi đó, KH&CN mới thực sự trở thành đòn bẩy nâng cao thu nhập, tạo sinh kế và góp phần giảm nghèo bền vững ở khu vực nông thôn, miền núi.

Trung tâm Truyền thông KH&CN
Phản ánh, kiến nghị văn bản
quy phạm pháp luật

Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ cao.

Xem thêm
Dịch vụ hành chính công

Thông tin về Dịch vụ hành chính công Bộ Khoa học và Công nghệ; Hệ thống thông tin giải quyết TTHC

Xem thêm
Sản phẩm dịch vụ,
KHCN, ĐMST

Thông tin giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ ngành Khoa học và Công nghệ

Xem thêm
Make in VietNam

Thông tin về Công nghiệp công nghệ số

Xem thêm