TS. Nguyễn Thị Trúc Mai, Chủ nhiệm đề tài thu hoạch sắn KM573 kháng bệnh cho năng suất cao.
Lai tạo giống mới, nâng cao năng suất tinh bột
Bệnh khảm lá và chồi rồng là những thách thức đối với sản xuất sắn, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng củ và thu nhập của nông dân. Trong bối cảnh đó, chọn tạo giống có hàm lượng tinh bột cao, chống chịu sâu bệnh và thích nghi với điều kiện canh tác địa phương là hướng nghiên cứu quan trọng nhằm nâng cao giá trị cây trồng.
Đề tài "Nghiên cứu chọn tạo giống sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính, phù hợp với điều kiện sản xuất tại tỉnh Phú Yên" do nhóm nghiên cứu thuộc Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thực hiện, triển khai trong giai đoạn 2021-2025 đã tập trung nghiên cứu, chọn tạo giống sắn mới có năng suất cao, kháng bệnh và phù hợp điều kiện địa phương. Đây là hướng đi cần thiết nhằm phát triển bền vững ngành sắn, góp phần đảm bảo sinh kế và phát triển kinh tế - xã hội.

TS. Nguyễn Thị Trúc Mai khảo sát thực tế mô hình trồng sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính tại xã Vân Hòa.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã lai tạo, cải tiến giống sắn chủ lực KM419 với các giống KM440 và C39 nhằm kết hợp những đặc tính có lợi, đặc biệt là khả năng chống chịu bệnh khảm lá. Hơn 5.000 hạt lai được tạo ra, cung cấp nguồn vật liệu cho quá trình chọn lọc. Nhóm đồng thời khảo sát 27 giống và tuyển chọn các dòng triển vọng qua nhiều bước đánh giá.
Kết quả, hai giống KM568 và KM537 được tuyển chọn nhờ năng suất củ tươi cao, hàm lượng tinh bột lớn và khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương.
Nổi bật là giống KM568, có năng suất củ tươi khoảng 54 tấn/ha, hàm lượng tinh bột đạt 28,4-28,7%, tương ứng năng suất tinh bột trên 15 tấn/ha. Giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh khảm lá và chồi rồng, ít bị sâu bệnh gây hại, tán cây gọn và nhiều củ, phù hợp với canh tác thâm canh.
Trong khi đó, KM537 cho năng suất củ tươi trên 50 tấn/ha, củ tương đối đồng đều và hàm lượng tinh bột cao. Tuy nhiên, khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh của giống này thấp hơn KM568.
Kết quả khảo nghiệm trên nhiều loại đất và mùa vụ cho thấy cả hai giống có khả năng thích nghi với điều kiện sản xuất tại khu vực nghiên cứu. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình nhân giống, canh tác và đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng diện tích.
Thử nghiệm thực tế, hướng tới vùng nguyên liệu ổn định
Hiệu quả của hai giống sắn mới được kiểm chứng qua các mô hình trình diễn tại Sông Hinh, Sơn Hòa và Đồng Xuân, thuộc tỉnh Phú Yên trước đây, nay là Đắk Lắk. Kết quả cho thấy KM568 và KM537 có năng suất và hiệu quả kinh tế vượt giống đối chứng KM94 trong điều kiện triển khai.
Song song với xây dựng mô hình, nhóm nghiên cứu tổ chức tập huấn, hội nghị đầu bờ và hội thảo nhằm chuyển giao kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và canh tác sắn phù hợp cho nông hộ. Qua đó, người trồng có thêm cơ hội tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và chủ động hơn trong phòng trừ bệnh hại.

Người dân đang kiểm tra chất lượng mô hình trồng sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính tại xã Vân Hòa.
Đáng chú ý, đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng đối với KM568 đã được chấp nhận, tạo tiền đề cho các bước tiếp theo trong phát triển và thương mại hóa giống. Để phát huy hiệu quả, nhóm nghiên cứu kiến nghị đưa KM568 và KM537 vào sản xuất rộng rãi, ưu tiên KM568; đồng thời xây dựng hệ thống sản xuất giống gốc sạch bệnh, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân.
Việc phát triển các giống sắn năng suất cao, chống chịu bệnh tốt không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, mà còn tạo thêm cơ hội cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn, miền núi. Đây cũng là hướng ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phù hợp với mục tiêu của Chương trình 1719.