Chăn nuôi lợn theo hướng an toàn sinh học đang mở ra triển vọng phát triển sản xuất tại xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Nhờ ứng dụng tiến bộ KH&CN, các khâu từ lựa chọn con giống, chăm sóc, phòng ngừa dịch bệnh đến xử lý chất thải được thực hiện theo quy trình kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng đàn vật nuôi, giảm thiểu rủi ro và bảo đảm điều kiện chăn nuôi.
Nhằm thúc đẩy ứng dụng KH&CN vào sản xuất, giai đoạn 2022–2025, dự án xây dựng mô hình sản xuất lợn lai ba giống thương phẩm và chăn nuôi lợn thịt theo hướng an toàn sinh học đã được triển khai tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025, do Công ty TNHH MTV Thương mại Vận tải Thúy Hà chủ trì, với sự chuyển giao công nghệ của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Trọng tâm là xây dựng đàn giống chất lượng, áp dụng đồng bộ các biện pháp an toàn sinh học và chuyển giao kỹ thuật cho người chăn nuôi tại địa phương.
Chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi
Dự án đã tiếp nhận, ứng dụng 7 quy trình kỹ thuật về chăn nuôi lợn nái giống bố mẹ, chăm sóc lợn con, nuôi lợn thịt, quản lý lợn đực giống, khai thác tinh dịch, vệ sinh thú y và xử lý chất thải chăn nuôi. Trên cơ sở các quy trình được chuyển giao, dự án xây dựng mô hình nuôi lợn nái sinh sản tập trung với 250 lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) và 6 lợn đực giống Duroc; đồng thời triển khai chăn nuôi lợn thương phẩm lai ba giống tại trang trại và nông hộ.

Mô hình chăn nuôi lợn nái sinh sản theo hướng an toàn sinh học.
Việc kết hợp các giống lợn có đặc tính phù hợp với quy trình chăm sóc, quản lý đàn giúp chủ động nguồn con giống, nâng cao chất lượng vật nuôi và tạo điều kiện phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa.
Các biện pháp an toàn sinh học được áp dụng trong quá trình sản xuất, từ vệ sinh, khử trùng chuồng trại, kiểm soát thức ăn, nguồn nước đến phòng bệnh và xử lý chất thải. Những giải pháp này góp phần hạn chế nguy cơ lây lan dịch bệnh, bảo vệ môi trường và duy trì điều kiện chăn nuôi ổn định.
Kết quả cho thấy đàn lợn sinh trưởng tốt, tỷ lệ nuôi sống cao; các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu đạt hoặc vượt yêu cầu đặt ra, khẳng định hiệu quả bước đầu của việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào chăn nuôi tại khu vực miền núi.
Đưa tiến bộ kỹ thuật đến người dân, mở rộng sinh kế
Bên cạnh xây dựng mô hình, dự án chú trọng đào tạo nhân lực tại chỗ nhằm giúp người dân tiếp cận, làm chủ kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học. Trong thời gian triển khai, dự án đã đào tạo 6 kỹ thuật viên cơ sở và tổ chức tập huấn cho 150 lượt người dân về kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh và vệ sinh thú y. Qua đó, người chăn nuôi được trang bị kiến thức quản lý đàn vật nuôi, xử lý môi trường chuồng trại và áp dụng quy trình kỹ thuật vào thực tế sản xuất.

Cán bộ và người dân tham quan mô hình chăn nuôi lợn tại địa phương.
Cùng với chuyển giao công nghệ, dự án còn kết nối tiêu thụ lợn giống, lợn thịt với các cơ sở thu mua, giết mổ trong và ngoài tỉnh. Hoạt động này góp phần gắn sản xuất với nhu cầu thị trường, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa.
Theo kết quả nghiệm thu của Sở KH&CN tỉnh Quảng Ngãi đầu năm 2026, dự án đạt được những kết quả quan trọng trong ứng dụng, chuyển giao công nghệ và xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học.
Kết quả tại Sa Loong cho thấy việc kết hợp công nghệ giống, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học và đào tạo kỹ thuật đã tạo cơ sở để duy trì, phát triển mô hình phù hợp với điều kiện địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện sinh kế cho người dân vùng núi Quảng Ngãi.