Chi tiết Hỏi đáp thuộc lĩnh vực
Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
Ghi nhãn hàng hóa theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP
Trả lời
Câu 1: Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào doanh nghiệp chế xuất hoặc khu phi thuế quan phải đáp ứng khoản 2 Điều 42 tại thời điểm làm thủ tục thông quan. Trường hợp hàng hóa chỉ được sử dụng trong khu phi thuế quan, không đưa vào lưu thông trên thị trường nội địa Việt Nam thì chưa phải thực hiện ghi nhãn theo khoản 1 Điều 42. Hàng hóa từ doanh nghiệp chế xuất hoặc khu phi thuế quan đưa vào thị trường nội địa Việt Nam thì tại khâu nhập khẩu phải đáp ứng khoản 2 Điều 42; trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường nội địa, phải hoàn thiện nhãn bằng tiếng Việt theo khoản 1 Điều 42. Nghị định số 37/2026/NĐ-CP cũng quy định tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa phải bảo đảm hàng hóa phù hợp với quy định của nơi nhập khẩu, hợp đồng và các cam kết quốc tế có liên quan; không phải tuân thủ các quy định áp dụng đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường nội địa Việt Nam, trừ các nghĩa vụ được quy định riêng.
Câu 2: Điểm d khoản 1 Điều 42 quy định các nội dung bắt buộc khác theo tính chất của từng loại hàng hóa được xác định theo Phụ lục I đối với hàng hóa đang lưu thông tại Việt Nam. Trong khi đó, khoản 2 Điều 42 chỉ yêu cầu nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm thông quan thể hiện bằng nhãn vật lý ba nhóm nội dung: tên hàng hóa; xuất xứ hàng hóa; tên hoặc tên viết tắt và địa chỉ của tổ chức sản xuất hoặc tổ chức chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài. Theo đó, hàng hóa mua bán giữa hai doanh nghiệp chế xuất, giữa các khu phi thuế quan hoặc hàng hóa chỉ sử dụng trong doanh nghiệp chế xuất, không đưa vào lưu thông trên thị trường nội địa Việt Nam thì không bắt buộc áp dụng toàn bộ các nội dung tại Phụ lục I chỉ để thực hiện thủ tục thông quan. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ quy định của pháp luật chuyên ngành, yêu cầu an toàn, cảnh báo, bảo quản, sử dụng và thỏa thuận trong hợp đồng nếu có. Trường hợp hàng hóa được đưa từ doanh nghiệp chế xuất hoặc khu phi thuế quan vào lưu thông trên thị trường nội địa Việt Nam thì trước khi lưu thông phải ghi đầy đủ các nội dung theo khoản 1 Điều 42 và Phụ lục I tương ứng với loại hàng hóa.
Câu 3: Về sở hữu trí tuệ, việc sử dụng logo hoặc dấu hiệu của chủ thể khác có vi phạm hay không phải được xem xét trên cơ sở tình trạng bảo hộ tại Việt Nam, phạm vi hàng hóa, sự cho phép của chủ sở hữu và khả năng gây nhầm lẫn. Dấu hiệu gắn trên hàng hóa hoặc bao bì trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ có thể bị xem xét là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Đề nghị liên hệ với Cục Sở hữu trí tuệ để được giải đáp.
Câu 4: Việc ghi nhãn thực hiện theo Điều 36 như sau: Hàng hóa có bao bì ngoài và các đơn vị hàng hóa có bao bì trực tiếp bên trong không được bán, sử dụng riêng lẻ thì ghi nhãn trên bao bì ngoài. Trường hợp các đơn vị hàng hóa bên trong có thể được tách ra để bán hoặc sử dụng riêng lẻ thì phải ghi nhãn đầy đủ cho cả bao bì ngoài và từng bao bì trực tiếp. Trường hợp bao bì ngoài trong suốt và có thể quan sát đầy đủ nội dung nhãn của sản phẩm bên trong thì không bắt buộc ghi lại nhãn trên bao bì ngoài.

